Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 85/2023/DS-PT

Ngày 21 tháng 12 năm 2023

“V/v tranh chấp kiện đòi lại quyền sử

dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt

hại; tranh chấp hợp đồng chuyển đổi

quyền sử dụng đất nông nghiệp”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Viết Anh;

Ông Đinh Việt Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 57/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc: “tranh chấp kiện đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại; tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2023/DS-ST ngày 28/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 70/2023/QĐ-PT ngày 03/11/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐ-PT ngày 23/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2023/QĐ-PT ngày 14/12/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1964

TT: Khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967

TT: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1967

    TT: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông L:

    Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967

    TT: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L: Chị Bùi Thị Thanh N1,

    Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.

  2. Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1990

    TT: Khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

  3. Chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1992

    TT: Khu A, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

  4. Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1992

    TT: Khu E, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

  5. Anh Hà Hữu C, sinh năm 1984

    TT: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

  6. Anh Hà Trung K, sinh năm 1986

    TT: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

  7. Anh Hà Kiên T, sinh năm 1988

    TT: Khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Bà Gia, bà N, chị N1, chị H, chị H2, anh K, anh T có mặt; những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị G - Là nguyên đơn.

Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

Gia đình bà có thửa đất ruộng 100, tờ bản đồ 49, diện tích 364m². Ngày 05/12/1996, gia đình bà được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện P (nay là UBND huyện P) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là QSDĐ) trong đó có thửa đất 100, tờ bản đồ 49 tại khu D xã P đứng bà Nguyễn Thị Gia . Theo bản đồ đo đạc mới thửa 100, tờ bản đồ 49 nay là thửa đất 428, diện tích 378,2m² và thửa 458, diện tích 141,5m² đều thuộc tờ bản đồ 46 tại xứ đồng Cây Bông khu 4, xã P. Khoảng năm 2002-2003, do không có nhu cầu sử dụng thửa ruộng trên nên bà đã cho bà N mượn đất của bà. Khi cho bà N mượn đất hai bên không có thỏa thuận gì chỉ nói miệng với nhau, khi nào cần sẽ bảo nhau trả. Quá trình cho bà N mượn đất ruộng, bà vẫn thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ cho nhà nước. Bà N tự ý đào ao không hỏi ý kiến bà, khi phát hiện bà N đào ao nhưng vì điều kiện công việc và ở xa nhà, bà chưa về quê canh tác làm ruộng được nên bà vẫn để cho bà N mượn làm. Đến năm 2017, bà về quê có nhu cầu sử dụng đất, thì bà N có thửa đất ruộng 38, 39 tờ bản đồ 54 tại xứ Đồng đá đen khu D, xã P cho bà mượn để canh tác sử dụng, bà có mượn ruộng của bà N từ năm 2019 đến 2021 bà không làm nữa bà trả lại ruộng cho bà N thì bà N đặt vấn đề gạ đổi ruộng cho nhau. Tuy nhiên, bà không đồng ý đổi và cũng không đồng ý cho mượn nữa. Khi đó, bà yêu cầu bà N trả lại ruộng cho bà, nhưng bà N không trả. Nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà N trả lại cho bà thửa đất ruộng 100, tờ bản đồ 49, diện tích 364m² (nay là thửa 428, 458 diện tích đo đạc theo chỉ giới bà chỉ) tại xứ đồng cây Bông, khu D, xã P; buộc bà N phải thu hoạch toàn bộ cây cối hoa màu, tháo dỡ gạch đá bê tông, san lấp mặt bằng trả lại hiện trạng như ban đầu trị giá 50 triệu đồng; bồi thường vì làm biến dạng đất 20.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại do mất thu nhập vì không được thu hoạch do cho bà N mượn đất từ tháng 01/2022 đến khi Tòa án xét xử xong tương đương với 3 vụ lúa bằng 1500kg x 14.000 đồng/kg thóc trị giá là 21.000.000 đồng; Bồi thường thêm vụ lúa tháng 6/2023 do hiện nay lúa đã được gieo mạ mà bà chưa được nhận lại đất trị giá là 7.000.000 đồng; Bồi thường thiệt hại cho việc chi phí thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh danh dự nhân phẩm uy tín tài sản bị xâm phạm là 50.000.000đ. Tổng số tiền bà yêu cầu bồi thường là 148.000.000 đồng. Sau khi xem xét, thẩm định tại chỗ theo bản đo vẽ, theo chỉ giới của bà chỉ có diện tích là 561,7m², bà đã có đơn yêu cầu bổ sung và tại phiên tòa bà đề nghị bà N phải trả lại cho bà diện tích đất là 561,7m².

Về chi phí tố tụng thì bên nào thua kiện bên đó phải chiụ trách nhiệm thanh toán. Đối với diện tích đất hai bên đang sử dụng bà xác định sai số diện tích tăng lên, giảm đi là sai số do đo đạc. Bà không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà N về việc công nhận thỏa thuận chuyển đổi đất bằng miệng giữa hai bên. Bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai, đơn yêu cầu phản tố ngày 20/3/2023 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Năm 1989, bà và ông Hoàng Văn L kết hôn về chung sống cùng với gia đình chồng tại khu D xã P (Gia đình chồng gồm bố chồng là ông Hoàng Anh T1, chết năm 1995; mẹ chồng là Nguyễn Thị Đ, chết năm 2014; em trai chồng là ông Hoàng Văn L1 và Hoàng Anh H3). Khi đó, bà và ông L được bố mẹ chồng cho canh tác sử dụng thửa đất ruộng 38, 39 tờ bản đồ 54 tại xứ Đồng đá đen khu D, xã P. Ngày 05/12/1996, gia đình bà được UBND huyện P (nay là UBND huyện P) cấp giấy chứng nhận QSDĐ trong đó có thửa 38 diện tích 140m², thửa 39 diện tích 300m² tờ bản đồ 54 tại xứ đồng Đá đen, khu D xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Do nhầm lẫn nên UBND huyện ghi nhầm trên giấy chứng nhận QSDĐ thửa 38 thành thửa 140 và và thửa 39 thành thửa 300, tờ bản đồ 54. Việc sai sót bà cũng không biết cho đến khi có tranh chấp xảy ra. Khoảng năm 1997, để tiện cho việc canh tác đất nông nghiệp và thửa ruộng của bà Gia ở gần nhà bà, thửa ruộng của bà ở gần nhà bà Gia nên bà với bà Gia đã tự nguyện thống nhất bằng miệng đổi đất ruộng cho nhau, không lập thành văn bản. Bà Gia sử dụng thửa đất ruộng 38, 39, tờ bản đồ 54 của gia đình bà, còn bà sử dụng thửa đất ruộng 100, tờ bản đồ 49 của bà Gia (nay là thửa 428, tờ bản đồ 46). Còn việc bà Gia cho rằng thửa 100 tách ra làm hai thửa là thửa 428 và thửa 458 có diện tích theo chỉ giới bà Gia chỉ là 561,7m² sang cả thửa 459 là không đúng. Thửa đất 458 là của gia đình bà khai hoang thêm và đổi cho bà Phạm Thị T2 còn thửa đất 459 là của gia đình bà khai hoang. Thửa đất 428, 458, 459 đứng tên chồng bà là ông Hoàng Văn L đã có trong sổ mục kê, sổ địa chính, và bản đồ địa chính năm 2010. Gia đình bà sử dụng thửa đất đổi cho bà Gia từ năm 1997 cho đến nay. Năm 2006 bà có đào ao của thửa đất đổi cho bà T2 là thửa 458, tờ bản đồ 46 và đến năm 2016 để phát triển kinh tế, bà đã đào ao thả cá trên một phần thửa ruộng đã đổi của bà Gia để làm ao từ thời điểm đó. Việc bà đào ao thả cá gia đình bà Gia biết nhưng không có ý kiến gì. Nay bà Gia yêu cầu Tòa án buộc bà phải trả lại thửa đất ruộng 100, tờ bản đồ 49, (Nay là thửa 428, 458, tờ bản đồ 46, diện tích 561,7m²) tại xứ đồng cây Bông, khu D xã P; buộc bà phải thu hoạch toàn bộ cây cối hoa màu, san lấp mặt bằng, trả lại hiện trạng như ban đầu trị giá 50 triệu đồng; bồi thường thiệt hại do mất thu nhập vì không được thu hoạch do cho bà nhượng mượn đất từ tháng 01/2022 đến khi tòa án xét xử xong tương đương với 4 vụ lúa bằng 1500kg x 14.000 đồng/kg thóc trị giá là 28.000.000 đồng, bồi thường vì làm biến dạng đất 20.000.000 đồng; Bồi thường thiệt hại cho việc chi phí thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh danh dự nhân phẩm uy tín tài sản bị xâm phạm là 50.000.000đ. Tổng số tiền yêu cầu bồi thường là 148.000.000 đồng. Bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của bà Gia.

Bà N có đơn yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án công nhận thỏa thuận đổi đất bằng miệng giữa bà với bà Gia, giao cho bà được quyền quản lý và sử dụng thửa ruộng 100 (nay là thửa 428) và bà Gia được sử dụng thửa 38, 39 (nay là thửa 247). Đối với diện tích đất hai bên đang sử dụng bà xác định sai số diện tích tăng lên, giảm đi là sai số do đo đạc. Bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Văn L:

Đại diện theo ủy quyền của ông L là bà Nguyễn Thị N trình bày, nhất trí với toàn bộ quan điểm của bà N.

Những người làm chứng khai như sau:

  • Bà Phạm Thị T2 (Người đổi đất với bà N) trình bày: Gia đình bà có thửa ruộng khai hoang tại xứ đồng cây Bông tại khu D xã P liền kề với bờ cõi với thửa đất của bà Gia đã đổi cho bà N từ thời điểm trước đây. Do nhu cầu tiện canh tác nên bà đã đổi phần diện tích đất này cho bà N để bà N sử dụng. Năm 2010, sau khi đo đạc lại thửa đất có diện tích 141,5m² nay đã đứng tên ông Hoàng Văn L (chồng bà N) chính là thửa đất 458, tờ bản đồ 46, tại khu D xã P, huyện P. Bà xác định đây là phần đất bà khai hoang trước đó và đổi cho bà N, không phải đất của bà Gia.
  • Ông Dương Công H4 trình bày: Ông là hàng xóm của bà N còn đối với bà Gia có quan hệ anh em bên vợ ông. Ông làm trưởng khu 4 từ năm 1995 đến năm 1999. Việc đổi đất giữa hai bà cho nhau năm nào ông không biết, ông chỉ biết khi đi thu thuế năm 1996, ông có hỏi bà N tại sao lại canh tác trên thửa ruộng của bà Gia thì bà N có trả lời hai bên đã đổi đất cho nhau và hai bên canh tác trên thửa ruộng đổi từ năm 1996. Ông có biết bà N đào ao thả cá nhưng đào ao năm nào thì ông không rõ. Ông được giao nhiệm vụ thu thuế của các hộ dân trong khu, ông có thu thuế đất ruộng của bà Gia và bà N, có 02 biên lai thu tiền đã đưa cho mỗi hộ 1 bản còn 1 bản đưa cho UBND xã.
  • Ông Nguyễn Đình T3 trình bày: Ông là hàng xóm của bà Gia và bà N. Ông sống tại khu 4 xã P từ năm 1985 cho đến nay, bà Gia và bà N đổi ruộng cho nhau năm nào ông không biết, ông được biết thửa ruộng đang tranh chấp trước đây bà Gia sử dụng, sau này bà N sử dụng canh tác đến nay. Bà N sử dụng thửa đất đổi cho bà Gia khoảng hơn 20 năm, Bà N đào ao khoảng trên 10 năm nay, ông có thửa ruộng gần thửa ruộng bà N. Đối với diện tích đất của thửa 458, tờ bản đồ 46 diện tích 141,5m² là đất bà N khai hoang.
  • Ông Nguyễn Văn X trình bày: Ông là hàng xóm của bà Gia và bà N. Ông Sinh sống tại khu D xã P từ năm 1991 đến nay, ông không biết hai bên đã đổi đất cho nhau năm nào nhưng ông được biết thửa ruộng đang tranh chấp trước đây bà Gia sử dụng, sau này bà N sử dụng canh tác đến nay. Bà N sử dụng thửa ruộng này đã trên 20 năm. Và đã đào ao thả cá khoảng trên 10 năm nay.
  • Bà Hà Thị N2 (Trưởng khu 4 xã P hiện tại) trình bày: Bà là hàng xóm của bà Gia và bà N và là trưởng khu 4 từ năm 1999 đến nay. Việc hai bà đổi ruộng cho nhau như thế nào bà không nắm rõ nhưng bà được biết bà N đang sử dụng đất của bà Gia, bà Gia sử dụng đất của bà N từ lâu. Khi thu sản, Hợp tác xã đã giao cho ông Nguyễn Trọng L2 thu theo diện tích đất thực tế của hộ đang sử dụng đất. Năm 2010 thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc đo đạc lại thửa đất tại khu D, xã P, tại thực địa bà không có mặt để chứng kiến việc đo đất đất, đơn vị đo đạc do (UBND tỉnh chỉ định) đã phối hợp UBND xã P để đo đạc lại đất và lập bản đồ địa chính mới. Bà Gia có mẹ đẻ ở xã T nên bà đi lại hai nơi khi thì ở xã P, khi thì bà Gia ở xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
  • Ông Nguyễn Trọng L2 trình bày: Ông là hàng xóm của hai hộ, ông được giao làm tổ trưởng dịch vụ HTX nông nghiệp từ năm 2008. Được phân công điều hành sản xuất tại cơ sở và thu sản phẩm cho hợp tác xã bằng tiền mặt, có viết hóa đơn thu tiền. Hiện tại ông còn lưu giữ sổ diện tích đất tại khu D. Việc hai bên đổi đất cho nhau như thế nào ông đều không nắm rõ, nhưng thực tế ông được biết bà Gia canh tác tại thửa ruộng của bà N tại xứ đồng Đá đen còn bà N canh tác thửa ruộng của bà Gia tại xứ đồng cây bông từ năm 2008 đến nay.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông L: Chị Bùi Thị Thanh N1, Trợ giúp viên pháp lý-Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P có bài phát biểu trình bày: Chị nhất trí như quan điểm trình bày của bà N. Việc đổi đất giữa gia đình bà N với bà Gia là trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu sử dụng canh tác cả hai bên, quá trình sử dụng đất diễn ra ổn định liên tục từ năm 1996 cho đến nay, bà N đã cải tạo thửa đất trên thành ao thả cá, bà Gia biết nhưng không có ý kiến gì. Sau khi đổi đất hai bên đã đăng ký kê khai và được ghi nhận tại sổ mục kê lưu giữ tại UBND xã. Với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L, chị đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thỏa thuận miệng về việc đổi đất nông nghiệp giữa gia đình bà N và bà Gia và bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Gia.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2023/DS-ST ngày 28/7/2023, Tòa án nhân dân (TAND) huyện P đã quyết định:

Căn cứ các khoản 3 Điều 26, Điều 35, điển c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 74 của Luật đất đai năm 1993; khoản 1 Điều 167 Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ các Điều 131, 691, 693, 699, 700, 701 của Bộ luật dân sự năm 1995; Khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015.

Án lệ số 15/2020/AL công nhận thỏa thuận miệng về chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N về tranh chấp kiện đòi lại quyền sử dụng đất.
  2. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G về việc yêu cầu bị đơn phải thu hoạch toàn bộ cây cối hoa màu, tháo dỡ gạch đá bên tông, san lấp mặt bằng trả lại hiện trạng như ban đầu trị giá 50 triệu đồng; bồi thường thiệt hại do mất thu nhập vì không được thu hoạch trị giá là 28.000.000 đồng, bồi thường vì làm biến dạng đất 20.000.000 đồng. Bồi thường công đi lại, bút mực thiệt hại cho việc chi phí thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh danh dự nhân phẩm uy tín tài sản bị xâm phạm số tiền 50 triệu. Tổng số tiền là 148.000.000 đ (Một trăm bốn mươi tám triệu đồng).
  3. Chấp nhận đơn yêu cầu phản tố của bị đơn là bà Nguyễn Thị N: Công nhận thỏa thuận miệng về việc chuyển đổi đất nông nghiệp giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị G và bị đơn bà Nguyễn Thị N. Cụ thể:
    • + Bà Nguyễn Thị N và ông Hoàng Văn L có quyền sử dụng thửa đất lúa 100 tờ bản đồ 49 có diện tích 364m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B134132 ngày 05/12/1996 cấp cho bà Nguyễn Thị Gia n là thửa 428 tờ bản đồ 46 diện tích 378,2m², thửa đất có vị trí tứ cận và chỉ giới: {1,2,3,4,5,6,7,8,20,18,1} và sở hữu toàn bộ tài sản, hoa màu trên đất tại xứ đồng C khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Có bản vẽ sơ đồ kèm theo).
    • + Bà Nguyễn Thị G có quyền sử dụng thửa đất lúa 38 diện tích 140m²; thửa 39 diện tích 300m² tờ bản đồ 54 thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B134108 ngày 05/12/1996 cấp cho ông Hoàng Văn L (GCNQSDĐ có ghi nhầm thửa 38 thành thửa 140, thửa 39 thành thửa 300) nay là thửa 247 tờ bản đồ 47 diện tích đo đạc thực tế là 434,3m2. Thửa đất có vị trí tứ cận và chỉ giới: {1,2,3,4,5,6,7,8,25,26,11,12,13,14,15,18,19,20,24,21,22,23,1} tại xứ Đồng đá đen, khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Có bản vẽ sơ đồ kèm theo).
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng:
    • - Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị G phải nộp 300.000 đ tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận và Án phí đối với tiền 148.000.000đ không được chấp nhận là 7.400.000 đ (Bảy triệu bốn trăm nghìn đồng). Tổng là 7.700.000₫ (Bảy triệu bảy trăm nghìn đồng). Xác nhận bà Gia đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí số AA/2020/0001578 ngày 12/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh. Bà Gia còn phải nộp số tiền 7.400.000 đ (Bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).
    • - Buộc bà Nguyễn Thị G phải chịu số tiền 14.500.000 đ tiền chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. (Xác nhận bà Gia đã nộp đủ số tiền 14.500.000đ chi phí tố tụng).
    • - Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 300.000 đ tiền án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí số AA/2020/0001697 ngày 20/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh.

Ngoài ra bản án còn tuyên các quyền, nghĩa vụ khác của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/7/2023, bà Nguyễn Thị G kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Gia .

Ngày 10/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ kháng nghị với nội dung vụ án bị đơn có yêu cầu phản tố, Tòa án đã cho bị đơn nộp tạm ứng án phí. Bản án tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí cho bị đơn, nhưng lại không tuyên buộc nguyên đơn phải chịu án phí là không đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Sửa bản án sơ thẩm số: 09/2023 ngày 28/7/2023 của TAND huyện Phù Ninh.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Gia g nguyên kháng cáo, những căn cứ kháng cáo như đơn kháng cáo.

Viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị và những căn cứ kháng nghị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng nghị của VKS nhân dân tỉnh P, không chấp nhận kháng cáo của Bà Nguyễn Thị G và sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2023/DS-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh đối với phần án phí dân sự sơ thẩm.

(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bà Nguyễn Thị G là nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung kháng cáo: Bà Nguyễn Thị G kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị bị đơn bà N phải trả lại quyền sử dụng thửa đất lúa số 100, tờ bản đồ 49, diện tích 364m² được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/12/1996 (Nay là thửa 428, 458 tờ bản đồ 46, diện tích 561,7m²) tại xứ Đồng cây Bông cho gia đình bà và buộc bà N bồi thường cho bà theo như nội dung đơn khởi kiện:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự tại phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Gia không xuất trình được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện có việc bà cho gia đình bà N mượn canh tác thửa đất lúa số 100, tờ bản đồ 49, diện tích 364m² được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/12/1996 cho gia đình bà Gia (Nay là thửa 428, 458 tờ bản đồ 46, diện tích 561,7m²) tại xứ Đồng cây Bông. Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Mặc dù, việc đổi đất giữa bà Gia với bà N không có hợp đồng, nhưng được thể hiện rõ bằng nội dung cuộc điện thoại trao đổi giữa bà Gia với bà N được bà Gia công n1 là giọng nói của mình trong đó có lời thoại của bà Gia thừa nhận có việc bà Gia, bà N đổi các thửa đất trên cho nhau. Kết hợp với các tài liệu chứng cứ khác như biên bản xác minh tại chính quyền địa phương và lời khai của một số người làm chứng có đất giáp với thửa đất tranh chấp biết về quá trình sử dụng đất của hai gia đình và hai trưởng khu thời điểm từ năm 1995 đến năm 1999 và từ năm 1999 đến nay đều khẳng định và xác định: có việc bà Gia sử dụng, canh tác thửa ruộng của bà N và bà N sử dụng, canh tác trên thửa ruộng của bà Gia từ khoảng năm 1996 đến nay. Không chỉ chứng minh thời điểm đổi đất ruộng và quá trình sử dụng mà trên thực tế gia đình bà N còn đào ao vào một phần đất của thửa đất đang tranh chấp từ năm 2016 đến nay, bà Gia biết mà không có ý kiến gì. Bà Gia chỉ thừa nhận vợ chồng bà N sử dụng đất của gia đình nhà bà từ khoảng năm 2002, 2003. Nhưng lời khai của những người làm chứng thể hiện gia đình bà N sử dụng thửa đất của bà Gia từ những năm 1996, đến nay đã trên 20 năm. Nên việc bà Gia cho rằng chỉ cho gia đình bà N mượn đất là không đúng với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù không có hợp đồng đổi đất, nhưng hai bà đã thỏa thuận với nhau bằng miệng về việc chuyển đổi đất nông nghiệp, trên thực tế đã thực hiện việc chuyển đổi, hai gia đình sử dụng canh tác hai thửa đất đổi với nhau từ khi đổi đất đến nay gần 30 năm.

Mặt khác, năm 2010, thực hiện chủ trương chung theo quy định của UBND tỉnh P về việc thực hiện sơ đồ số. Cơ quan chức năng đã tiến hành đo lại toàn bộ hiện trạng đất đang sử dụng trên địa bàn xã P, trong đó có khu D, xã P. Các bên đã đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã đổi. Căn cứ vào bản đồ địa chính năm 2010, UBND xã P đã lập hồ sơ và sổ địa chính thửa đất 428 tờ bản đồ 46, diện tích 378,2m² đã đứng tên ông Hoàng Văn L (thửa đất trước khi đổi là thửa 100, tờ bản đồ 49 của bà Nguyễn Thị G). Thửa đất 247, tờ bản đồ 47 diện tích 422,8m² đã đứng tên bà Nguyễn Thị G (thửa đất trước khi đổi là thửa 38, 39 tờ bản đồ 54 của ông Hoàng Văn L chồng bà Nguyễn Thị N). Sau khi lập hồ sơ địa chính, được vào sổ mục kê và sổ địa chính, bản đồ địa chính lưu tại UBND xã và UBND huyện khi đó các hộ đều biết việc này và không có ý kiến gì. Mặc dù bà Gia khai nhận bà không biết việc đo đất để làm sơ đồ số, không chỉ đất để cho cán bộ đo đạc ghi nhận vào sổ địa chính mới. Tuy nhiên, bà Gia không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc này. Hơn nữa, đây là chủ trương chung của UBND tỉnh, được thực hiện trên địa bàn xã và phổ biến đến từng khu dân cư. Các hộ dân tham gia chỉ đất đối với diện tích đất mình đang canh tác, sử dụng thì mới có số liệu ghi nhận như hiện tại. Do vậy, lời khai của bà Gia là không có căn cứ để chấp nhận. Quá trình sử dụng đất bà N đã cải tạo một phần diện tích đất đổi thành ao thả cá. Gia đình bà Gia biết nhưng đều không có ý kiến gì. Do vậy, trong trường hợp này, để ổn định tình hình tại địa phương, để ổn định quá trình canh tác và sử dụng đất và tránh gây xáo trộn về việc sử dụng đất của các hộ gia đình, căn cứ vào khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 và áp dụng Án lệ số 15/2017 để công nhận thỏa thuận miệng của các đương sự trong việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định giao dịch chuyển đổi đất nông nghiệp giữa bà Nguyễn Thị G và bà Nguyễn Thị N có hiệu lực pháp luật. Do vậy, bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Gia và chấp nhận yêu cầu phản tố của bà N về việc công nhận thỏa thuận miệng chuyển đổi đất nông nghiệp giữa bà Gia và bà N là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng nghĩa nội dung kháng cáo này của bà Gia không được chấp nhận.

Xét yêu cầu bồi thường của bà Gia thấy rằng: Như đã phân tích trên việc đổi đất giữa bà Gia, bà N là có. Vì vậy, bà N canh tác sử dụng thửa đất đó cho đến nay là hoàn toàn phù hợp với pháp luật, yêu cầu khởi kiện đòi lại đất của bà Gia không được chấp nhận nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường số tiền 148.000.000đ của bà Gia. Bản án sơ thẩm bác yêu cầu của bà Gia là có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của bà Gia không được chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ: Ngày 10/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ kháng nghị với nội dung: bị đơn có yêu cầu phản tố, Tòa án đã cho bị đơn nộp tạm ứng án phí. Bản án tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí cho bị đơn, nhưng lại không tuyên buộc nguyên đơn phải chịu án phí là không đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo quy định của pháp luật trong trường hợp này yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận thì nguyên đơn phải chịu án phí. Nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát được chấp nhận.

[3] Về án phí:

Án phí sơ thẩm: Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị G phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận và án phí đối với tiền 148.000.000 đồng không được chấp nhận là 7.400.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm nghìn đồng). Tổng là 7.700.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm nghìn đồng). Xác nhận bà Gia đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí số AA/2020/0001578 ngày 12/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh. Bà Gia còn phải nộp số tiền 7.400.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).

Buộc bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng tiền án phí do yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận

Về án phí phúc thẩm: Bà Gia kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.

Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa bà Gia với bà N, nhưng bản án sơ thẩm không đưa các con của bà Gia, bà N vào tham gia tố tụng và nhận định: do năm 1996, khi được nhà nước giao đất nông nghiệp các con của bà Gia, bà N đều còn nhỏ nên quyền lợi, không liên quan là không đúng. Theo quy định của nghị định 64-CP/ ngày 27/9/1993 của Chính Phủ, năm 1993 chia đất nông nghiệp theo nhân khẩu cho hộ gia đình là chia cho tất cả các thành viên trong gia đình có tên trong sổ hộ khẩu. Do vậy, tại thời điểm năm 1993 chia đất nông nghiệp các con của bà Gia, bà N đều đủ điều kiện để được chia đất. Cấp sơ thẩm không đưa các con của bà Gia, bà nhượng vào tham gia tố tụng là thiếu sót. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm các con của bà Gia, bà N trình bày không có ý kiến gì về việc cấp sơ thẩm không đưa vào tham gia tố tụng. Để đảm bảo quyền lợi cho các con của bà Gia, bà N, bản án phúc thẩm đưa các con của bà Gia, bà N vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đối với nội dung này cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm và cần sửa cách tuyên của bản án sơ thẩm, xác định các thửa đất nông nghiệp tranh chấp thuộc quyền sử dụng chung của cả các con bà Gia, bà N.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Gia . Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2023/DS-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ về phần án phí.

[2]. Căn cứ các khoản 3 Điều 26, Điều 35, điển c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 74 của Luật đất đai năm 1993; khoản 1 Điều 167 Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ các Điều 131, 691, 693, 699, 700, 701 của Bộ luật dân sự năm 1995; Khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015.

Án lệ số 15/2020/AL công nhận thỏa thuận miệng về chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[3]. Xử:

  1. [3.1]. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N về tranh chấp kiện đòi lại quyền sử dụng đất.
  2. [3.2]. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G về việc yêu cầu bị đơn phải thu hoạch toàn bộ cây cối hoa màu, tháo dỡ gạch đá bên tông, san lấp mặt bằng trả lại hiện trạng như ban đầu trị giá 50 triệu đồng; bồi thường thiệt hại do mất thu nhập vì không được thu hoạch trị giá là 28.000.000 đồng, bồi thường vì làm biến dạng đất 20.000.000 đồng. Bồi thường công đi lại, bút mực thiệt hại cho việc chi phí thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh danh dự nhân phẩm uy tín tài sản bị xâm phạm số tiền 50 triệu. Tổng số tiền là 148.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu đồng).
  3. [3.3]. Chấp nhận đơn yêu cầu phản tố của bị đơn là bà Nguyễn Thị N: Công nhận thỏa thuận miệng về việc chuyển đổi đất nông nghiệp giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị G và bị đơn bà Nguyễn Thị N. Cụ thể:
    • Bà Nguyễn Thị N và ông Hoàng Văn L, chị Hoàng Thị H, chị Hoàng Thị H1, chị Hoàng Thị H2 có quyền sử dụng thửa đất lúa 100 tờ bản đồ 49 có diện tích 364m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B134132 ngày 05/12/1996 cấp cho bà Nguyễn Thị Gia n là thửa 428 tờ bản đồ 46 diện tích 378,2m², thửa đất có vị trí tứ cận và chỉ giới: {1,2,3,4,5,6,7,8,20,18,1} và sở hữu toàn bộ tài sản, hoa màu trên đất tại xứ đồng C khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Có bản vẽ sơ đồ kèm theo).
    • Bà Nguyễn Thị G, anh Hà Trung K, anh Hà Kiên T, anh Hà Hữu C có quyền sử dụng thửa đất lúa 38 diện tích 140m²; thửa 39 diện tích 300m² tờ bản đồ 54 thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B134108 ngày 05/12/1996 cấp cho ông Hoàng Văn L (GCNQSDĐ có ghi nhầm thửa 38 thành thửa 140, thửa 39 thành thửa 300) nay là thửa 247 tờ bản đồ 47 diện tích đo đạc thực tế là 434,3m². Thửa đất có Vị trí tứ cận và chỉ giới: {1,2,3,4,5,6,7,8,25,26,11,12,13,14,15,18,19,20,24,21,22,23,1} tại xứ Đồng đá đen, khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Có bản vẽ sơ đồ kèm theo).

    Bà Nguyễn Thị N và ông Hoàng Văn L, chị Hoàng Thị H, chị Hoàng Thị H1, chị Hoàng Thị H2, bà Nguyễn Thị G, anh Hà Trung K, anh Hà Kiên T, anh Hà Hữu C có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm các thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án của tòa án và thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước (nếu có).

  4. [4]. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:
    • - Án phí sơ thẩm: Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị G phải nộp 300.000 ₫ tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận; buộc bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng tiền án phí do yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận và Án phí đối với tiền 148.000.000 đồng không được chấp nhận là 7.400.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm nghìn đồng). Tổng là 8.000.000₫ (Tám triệu đồng). Xác nhận bà Gia đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí số AA/2020/0001578 ngày 12/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh. Bà Gia còn phải nộp số tiền 7.700.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).
    • Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí số AA/2020/0001697 ngày 20/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh.
    • - Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Gia đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0001849 ngày 04/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

  5. [5]. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS huyện Phù Ninh;
  • - TAND huyện Phù Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Điêu Thị Bích Lượt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2023/DS-PT ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp kiện đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại; tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp

  • Số bản án: 85/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp kiện đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại; tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị G - Nguyễn Thị N - Tranh chấp QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger