|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 85/2023/HSPT Ngày: 21/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thái Hùng
Ông Phạm Trung Dũng
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hồng - Thư ký Tòa án.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia
phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 91/2023/HSPT ngày 08/6/2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2023/HSST ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1979, Thường trú: ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn N (đã chết) và bà Hoàng Thị T1 (sinh năm 1956); có chồng là Hoàng Văn H (sinh năm 1975) và 04 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không.
Bị tạm giam từ 17/6/2020 đến ngày 21/9/2020, sau đó được áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh. (có mặt)
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/6/2020 Trại heo Xuyên Mộc 3, thuộc Công ty cổ phần C, địa chỉ: ấp T, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện mất trộm 102 con heo (lợn) giống cai sữa, nặng khoảng 08kg/con, đặc điểm chung đều cụt đuôi, tai có ghi số gồm: 13 con ghi số B416, 24 con ghi số B417 và 43 con ghi số B418, nên đã trình báo Công an. Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, khám nghiệm hiện trường, phát hiện gần khu vực trại có 02 con heo bị kẻ gian dùng băng keo đen cuốn mõm và trói chân; 03 gia đình đang nuôi nhốt số heo giống trên, gồm: Gia đình ông Đinh Văn T2 (sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ H, ấp D, xã H, huyện X) nuôi nhốt 30 con, gia đình bà Đinh Thị H1 (sinh năm 1976, địa chỉ: Tổ H, ấp D, xã H, huyện X) nuôi nhốt 10 con, gia đình bà Lê Thị K (sinh năm 1957, địa chỉ: Tổ H, ấp B, xã H, huyện X) nuôi nhốt 40 con, nên đã thu giữ, giao trả cho T3 chăn nuôi.
Ông T2, bà H1, bà K khai nguồn gốc heo mua của Nguyễn Thị Thu T (sinh năm 1979, địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Tại cơ quan điều tra, T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau:
Khoảng 08h00' ngày 06/6/2020, một người thanh niên không rõ lai lịch chạy xe mô tô (không rõ biển số) đến cửa hàng bán cám thức ăn gia súc của T (địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện X) hỏi có mua heo con giống không. T hỏi có bao nhiêu con, giá tiền, thì được người này trả lời khoảng vài chục con, giá 2.100.000 đồng/con. T biết rõ người thanh niên bán heo giống trộm cắp của Trại chăn nuôi, nhưng nghĩ là heo còi hoặc heo dư đầu con (vượt mức so với tỷ lệ hao hụt công ty G), công nhân trộm ra bán giá rẻ hơn giá thị trường khoảng 300.000 - 400.000 đồng/con, nên đồng ý mua để bán lại kiếm lời. Người thanh niên xin số điện thoại của T và nói: “Khi nào heo ra thì sẽ gọi điện trước” cho T để chuẩn bị. T đồng ý cho số điện thoại 0363.636.xxx của mình.
Rạng sáng ngày 08/6/2020, khi T đang ngủ, thì có cuộc gọi từ số điện thoại 0388.971.xxx nói “Heo chuẩn bị đến”. T biết là người thanh niên gọi báo đưa heo tới bán nên đồng ý, nói “Ừ”. T nằm chờ khoảng 15 phút thì nghe tiếng xe máy trước nhà, ra mở cửa thấy 02 thanh niên (trong đó có 01 người đã gặp T trước đó) chạy 02 xe mô tô (không rõ biển số) kéo theo 02 xe lôi tự chế, thùng xe chở heo phủ bạt. T đồng ý mua, nói 02 thanh niên chạy xe thả heo vào chuồng phía sau vườn, kiểm đếm được 80 con, trả 168.000.000 đồng, nhốt heo 01 ngày rồi bán cho ông Đinh Văn T2 30 con giá 80.000.000 đồng, cho bà Đinh Thị H1 10 con giá 27.200.000 đồng, cho bà Lê Thị K 40 con giá 110.000.000 đồng. Tổng cộng, T bán cho 3 người 80 con heo giống được 217.200.000 đồng, trừ đi 168.000.000 đồng vốn thì lời 49.200.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 78/KL-HĐĐG ngày 14/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xác định: Tại thời điểm xảy ra vụ án, giá trị 102 con heo giống nuôi thịt là 306.000.000 đồng (ba trăm lẻ sáu triệu đồng chẵn); 80 con heo giống nuôi thịt đã thu hồi, được định giá là 240.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu đồng chẵn).
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) điện thoại di động OPPO màu tím IMEI: 863195044045312, 01 đầu máy hiệu aJhua màu đen S/N5G00FE7PAZFB609 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X trả lại cho bị cáo vì không liên quan đến tội phạm;
- 80 (tám mươi) con heo giống đã được cơ quan điều tra giao trả cho Công ty cổ phần C.
- 01 (một) điện thoại di động Vsmart màu xanh IMEI: 353442111690191/01 bị cáo T sử dụng liên lạc mua bán heo trộm cắp, 21 (hai mươi mốt) miếng băng keo dính màu đen cuốn tròn, dính lông động vật màu trắng, 1.040.000 đồng thu giữ của bị cáo T đã chuyển giao bảo quản tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc chờ xử lý.
Trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã hoàn trả cho ông T2 80.000.000 đồng, bà H1 27.200.000 đồng và bà K 110.000.000 đồng tiền mua bán heo; nhưng người này không yêu cầu gì thêm.
-
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2023/HSST ngày 13/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, Điều 38, các điểm b, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 30 tháng tù, trừ thời gian tạm giam 03 (Ba) tháng 05 (Năm) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 26 (Hai mươi sáu) tháng 25 (Hai mươi lăm) ngày tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
-
Ngày 24/4/2023, bị cáo Nguyễn Thị Thu T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng: Bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo là hợp lệ.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo 30 (ba mươi) tháng tù là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Xét thấy bị cáo có trình độ học vấn thấp nên hạn chế trong nhận thức pháp luật, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo hưởng án treo để chăm sóc cho gia đình, chồng con.
-
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo để có cơ hội tiếp tục lao động kiếm sống nuôi chồng con, cải tạo mình thành công dân tốt có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với qui định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Nhận thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định như sau:
Khoảng 08h00' ngày 06/6/2020, một thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) chạy xe mô tô không rõ biển số đến cửa hàng bán cám thức ăn gia súc của Nguyễn Thị Thu T tại ấp E, xã H, huyện X, hỏi bán vài chục heo con giống, giá 2.100.000 đồng/con. Biết rõ heo giống trộm cắp của Trại chăn nuôi, nhưng nghĩ là heo còi hoặc heo dư đầu con (vượt mức tỷ lệ hao hụt công ty G), công nhân trộm bán giá rẻ hơn giá thị trường khoảng 300.000 đồng - 400.000 đồng/con nên T đồng ý mua để bán kiếm lời. Người thanh niên xin số điện thoại 0363.636.xxx của T, hẹn khi nào heo ra thì sẽ gọi trước để T chuẩn bị.
Rạng sáng ngày 08/6/2020, T đang ngủ, thì có cuộc gọi đến từ số điện thoại 0388.971.xxx báo “Heo chuẩn bị đến”. T đồng ý, nói “Ừ”, thức dậy nằm chờ khoảng 15 phút, sau đó mở cửa khi nghe tiếng máy xe, thấy 02 thanh niên (trong đó có người thanh niên đã gặp T) chạy 02 xe mô tô (không rõ biển số) kéo theo 02 thùng xe lôi tự chế phủ bạt. Sau khi xem heo, T đồng ý mua 80 con heo giống có bấm đuôi và đánh mã số ở tai, trả 168.000.00 đồng, bảo người bán chở heo thả vào chuồng phía sau vườn. Thảo nuôi nhốt số heo trên 01 ngày rồi bán cho ông Đinh Văn T2 30 con giá 80.000.000 đồng, bà Đinh Thị H1 10 con giá 27.200.000 đồng, bà Lê Thị K 40 con giá 110.000.000 đồng; tổng cộng bán 80 con heo giống cho 3 người được 217.200.000 đồng, trừ đi 168.000.000 đồng vốn mua thì T thu lợi 49.200.000 đồng.
Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo:
Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo nhận thức rõ việc pháp luật bảo vệ quyền sở hữu về tài sản; mọi hành vi vi phạm đều bị nghiêm trị. Nhưng vì hám lợi trong kinh doanh buôn bán nên dù biết heo giống mua bán là tài sản người khác trộm cắp mà có nhưng bị cáo vẫn hứa hẹn và trực tiếp mua với giá rẻ hơn thị trường, bán lại kiếm lợi nhuận, thu lợi bất hợp pháp, tạo điều kiện giúp sức khiến các đối tượng trực tiếp trộm cắp heo giống yên tâm trong quá trình thực hiện hành vi trộm cắp, tiêu thụ tài sản trộm cắp mà có; đã phạm tội Trộm cắp tài sản với vai trò giúp sức. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn xảy ra vụ án, gây tâm lý bất an hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Toà án cấp sơ thẩm xét xử, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 30 (Ba mươi) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo để có điều kiện điều trị di chứng bệnh tâm thần, chăm sóc chồng bị đột quỵ cấp tính nhồi máu não, nuôi con nhỏ. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu tội danh Trộm cắp tài sản với vai trò thứ yếu người giúp sức trong vụ án, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nhận thức rõ lỗi lầm, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại, tự nguyện bồi thường các thiệt hại vật chất gây ra trong vụ án để khắc phục hậu quả của tội phạm (hoàn trả toàn bộ tiền mua bán heo), bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ, mắc bệnh tâm thần phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hơn 08 tháng trong giai đoạn điều tra, truy tố, nay đã chữa khỏi - đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn còn di chứng, chồng bị cáo bị bệnh nặng “đột quỵ cấp tính nhồi máu não”. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, bị cáo có trình độ học vấn thấp (01/12) nên hạn chế trong nhận thức pháp luật chưa được Toà án cấp sơ thẩm xem xét khi xét xử, nay được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, áp dụng là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình, không cần tập trung cải tạo trong môi trường giam giữ, không gây nguy hiểm cho xã hội. Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách phù hợp theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí theo quy định.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu T; sửa quyết định của bản án sơ thẩm số 25/2023/HSST ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu T, như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, các điểm b, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (21/8/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T không phải nộp.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 25/2023/HSST ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (21/8/2023).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 85/2023/HSPT ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 85/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu T - Trộm cắp tài sản
