TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 85/2024/HS-ST Ngày: 21-6-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viễn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chánh Bổn.
- Bà Trương Thị Lệ Thanh.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 21 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại:
1. Điểm cầu thành phần tại Phòng xét xử trực tuyến - Trụ sở Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai có:
- Bị cáo: Nguyễn Đức H – sinh năm 1978 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1955 và bà Đặng Thị T1 – sinh năm 1956; có vợ Nguyễn Huỳnh H1 (đã ly hôn) và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền sự, nhân thân: Không.
Tiền án: Tại Bản án số 02/2006/HSST ngày 21/02/2006 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán xử phạt H 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù 11/8/2007, chấp hành xong án phí tháng 6/2006. Chưa chấp hành phần bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/02/2024 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ cho đến nay “có mặt”.
- Bị cáo: Huỳnh Thanh B – sinh năm 1979 tại An Giang.
Nơi cư trú: Ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn R – sinh năm 1940 và bà Lê Thị D – sinh năm 1940 (đã chết); chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, thân nhân: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/02/2024 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ cho đến nay “có mặt”.
2. Điểm cầu Trung tâm tại Hội trường xét xử trực tuyến - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai gồm:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Đức T2 – sinh năm 1977, cư trú tại ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức H và Huỳnh Thanh B là các đối tượng sử dụng ma túy và là bạn bè quen biết với nhau.
Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 09/02/2024, H điều khiển xe mô tô biển số 60B7 – 038.10 đi từ nhà thuộc ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai đến cầu T thuộc ấp T, xã P thì gặp H2 (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch). Do có quen biết từ trước và biết H2 cũng là người sử dụng ma túy nên H đã xin của H2 01 bịch ma túy để sử dụng cho bản thân và được H2 đồng ý cho H 01 bịch ma túy. Sau khi có được ma túy từ H2, H điều khiển xe đi tìm nơi để sử dụng thì gặp Huỳnh Thanh B nên H rủ B đi cùng H đến nhà một người quen để lấy tiền nợ của H; nếu lấy được thì H sẽ cho B cùng sử dụng ma túy với H. Lúc này, B đồng ý nên H đã đưa cho B cất giữ bịch ma túy trong lòng bàn tay phải của B. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/02/2024, khi H và B đi đến đoạn đường thuộc ấp C, xã P thì bị lực lượng công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Do hoảng sợ nên B đã thả bịch ma túy từ lòng bàn tay phải xuống dưới đất tại vị trái B đứng thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang, lập biên bản niêm phong tang vật và dẫn giải H và B về trụ sở công an để làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức H và Huỳnh Thanh B đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
* Vật chứng vụ án:
- 01 bịch nylon được hàn kín chứa tinh thể màu trắng, thu giữ dưới đất tại vị trí Huỳnh Thanh B đứng (Nguyễn Đức H và Huỳnh Thanh B khai nhận đó là ma túy nhằm sử dụng cho bản thân).
- 01 xe mô tô biển số 60B7 – 038.10.
Căn cứ Bản kết luận giám định số 349/KL-KTHS ngày 19/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ xác định: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0, 3066 gam, loại: Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 237/CT-VKS-ĐQ ngày 28/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức H, Huỳnh Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Đức H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Bị cáo Huỳnh Thanh B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong sau giám định vụ số 349/KL-KTHS ngày 19/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Đức H và Huỳnh Thanh B đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Căn cứ để kết tội đối với các bị cáo: Căn cứ vào bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung và sự thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ, thể hiện: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/02/2024, tại ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã P đã bắt quả tang Nguyễn Đức H và Huỳnh Thanh B đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,3066 gam ma túy, loại: Methamphetamine. Vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 237/CT-VKSĐQ ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố là đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, xâm phạm an ninh, trật tự trong xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, nhân cách con người. Bản thân bị cáo H từng bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không coi đó là bài học. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử với mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của các bị cáo gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức H có 01 tình tiết tăng nặng là “tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Huỳnh Thanh B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc trường hợp quy định s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, còn xem xét cho các bị cáo có trình độ học vấn thấp, là lao động chính trong gia đình nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế là những tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo H là người rủ rê và có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên mức hình phạt sẽ cao hơn bị cáo B.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong sau giám định vụ số 349/KL-KTHS ngày 19/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ là phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với xe mô tô biển số 60B7 – 038.10, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Đặng Đức T2. Vào ngày 09/02/2024, ông T2 cho Nguyễn Đức H mượn xe mô tô để làm phương tiện đi lại và ông T2 không biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của H nên Cơ quan điều tra đã trao trả xe cho ông T2.
[7] Về vấn đề khác: Đối với nam thanh niên tên H2 là người đã cho Nguyễn Đức H 01 bịch ma túy, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của H2 nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để xử lý sau.
[8] Về án phí: Mỗi bị cáo Nguyễn Đức H, Huỳnh Thanh B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, xử lý vật chứng và vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H, Huỳnh Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2024.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2024.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong sau giám định vụ số 349/KL-KTHS ngày 19/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ.
(Vật chứng tuyên tiêu hủy hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán theo Quyết định chuyển vật chứng vụ án số 113/QĐ-VKS-ĐQ ngày 28/5/2024; Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/6/2024).
Về án phí: Mỗi bị cáo Nguyễn Đức H, Huỳnh Thanh B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Viễn |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
