Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 85/2025/HS-ST

Ngày: 03-12-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Khúc Thế Hoài

Bà Lại Thị Hằng

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Dương Hùng T, sinh ngày 22 tháng 11 năm 1968 tại thành phố Hải Phòng. Nơi thường trú: Số A Đ, phường L, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Đức M và con bà Trương Thị L (đều đã chết); Đã ly hôn chị Trương Thị Mỹ C, sinh năm 1986 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 74/2021/HS-ST ngày 17/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/5/2022, thi hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 17/5/2021; Tạm giam ngày 25/8/2025; có mặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Hải T1, sinh năm 1995; nơi thường trú: Số B đường N, phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1955; nơi thường trú: Số C Chùa H, phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 07/6/2025, Dương Hùng T đi bộ đến khu vực trước cửa nhà số B đường N, phường L, thành H thấy 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Bridgestone Veltro có trợ lực điện, màu sơn xanh, ổ khóa cắm chìa khóa của chị Nguyễn Hải T1 đang dựng trên vỉa hè trước cửa nhà không có ai trông coi, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T tiến lại gần xe đạp, gạt chân chống rồi ngồi lên xe đạp điều khiển xe đến cửa hiệu cầm đồ Anh T3 ở số C Chùa H, phường L, thành phố Hải Phòng do bà Nguyễn Thị T2 làm chủ, cầm cố cho bà T2 lấy số tiền 2.000.000 đồng. Khi cầm cố T nói là xe đạp của T và để lại một căn cước công dân mang tên Dương Hùng T. Sau khi phát hiện bị mất tài sản chị T1 kiểm tra Camera trước cửa nhà thì phát hiện một nam giới mặc áo phông ngắn tay màu đen, quần dài màu đen, đội mũ lưỡi trai trộm cắp xe đạp của chị T1. Ngày 02/7/2025, chồng của chị Nguyễn Hải T1 là anh Trần Việt D đang đi trên đường thì phát hiện đối tượng nghi vấn trộm cắp chiếc xe đạp của chị T1 nên đưa đến cơ quan Công an làm việc. Tại cơ quan Công an, T khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp xe đạp của chị T1. Ngày 02/7/2025 bà Nguyễn Thị T2 giao nộp cho Cơ quan Công an 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Bridgestone Veltro và 01 căn cước công dân mang tên Dương Hùng T.

Tại Kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 13/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố H kết luận: Chiếc xe đạp điện có trợ lực nhãn hiệu Bridgestone Veltro màu xanh đã qua sử dụng có trị giá 7.200.000 đồng.

Về dân sự, bồi thường thiệt hại: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại xe đạp điện có trợ lực nhãn hiệu Bridgestone Veltro màu xanh cho chủ sở hữu. Chị Nguyễn Hải T1, bà Nguyễn Thị T2 không có yêu cầu bồi thường.

Vật chứng của vụ án: 01 Usb có chứa đoạn video ghi hình hành vi trộm cắp tài sản của Dương Hùng T chuyển theo hồ sơ vụ án. 01 căn cước công dân mang tên Dương Hùng T đã trả lại cho Dương Hùng T.

Cáo trạng số 28/CT-VKSKV5 ngày 10 tháng 11 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Dương Hùng T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo trình bày đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội, kết tội đối với bị cáo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có lời trình bày đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt ở trên, không yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị xử lý hình sự bị cáo theo quy định pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Dương Hùng T phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo Dương Hùng T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 25/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có yêu cầu. Về xử lý vật chứng không có. Bị cáo Dương Hùng T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng không có ý kiến về việc thu thập chứng cứ của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi “Trộm cắp tài sản”:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người chứng kiến, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận như sau: Ngày 07/6/2025, tại khu vực trước cửa số nhà B đường N, phường L, thành phố Hải Phòng, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, bị cáo Dương Hùng T đã lén lút chiếm đoạt của bị hại là chị Nguyễn Hải T1 01 chiếc xe đạp điện có trợ lực nhãn hiệu Bridgestone Veltro màu xanh đã qua sử dụng trị giá 7.200.000 đồng. Nên hành vi của bị cáo Dương Hùng T đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 28/CT-VKSKV5 ngày 10 tháng 11 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng truy tố bị cáo và lời luận tội, kết tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.

- Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

[3] Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là ít nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

· Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo trước đó đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích, mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm là phạt tù đến 03 năm nên xác định là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, có cha đẻ là thương binh, lão thành cách mạng, được tặng huân chương nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân của bị cáo:

[6] Bị cáo đã từng bị kết án về tội phạm do cố ý, là người sử dụng ma túy nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.

Về hình phạt chính áp dụng:

[7] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, như vậy mức hình phạt chính mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có nghề nghiệp ổn định và tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự:

[9] Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

[10] Không có nên không xem xét giải quyết.

· Về những vấn đề khác:

[11] Bà Nguyễn Thị T2 khi cầm cố chiếc xe đạp cho Dương Hùng T không biết là tài sản do T trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không xử lý.

- Về án phí:

[12] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[13] Bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Dương Hùng T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Dương Hùng T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/8/2025.

- Về án phí căn cứ vào các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Dương Hùng T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam số 1, CATP Hải Phòng;
  • - VKSND khu vực 5 - Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Hải Phòng;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • Phòng PV06, PC10 CATP Hải Phòng;
  • - Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HS-ST ngày 03/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hải Phòng về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 85/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Hùng T - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger