Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23-5-2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Lực;

Ông Nguyễn Văn Hoàn.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 51/2025/TLST-HNGĐ ngày 14/02/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 73/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Đinh Thị N, sinh năm 1987. Thường trú: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Long An; vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1985. Thường trú: Thôn Q, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Tạm trú: số A, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 11 năm 2024, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Đinh Thị N trình bày:

Bà Đinh Thị N và ông Nguyễn Đình T là vợ chồng. Bà N1 và ông T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17, cấp ngày 11/02/2011. Sau khi kết hôn, bà N1 và ông T chung sống hạnh phúc được một thời gian thì những năm gần đây bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà N1 và ông T có những khác biệt về tính cách, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Hiện, ông T và bà N1 đã không còn chung sống với nhau. Cụ thể, ông Nguyễn Đình T đang tạm trú tại địa chỉ: Số A, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Còn bà N1 đang cư trú tại địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Long An.

Nay, bà N1 xác định tình cảm vợ chồng giữa bà N1 và ông T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Về hôn nhân: Bà Đinh Thị N yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Đình T.
  2. Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà N và ông Nguyễn Đình T có một con chung là cháu Nguyễn Đình Phương N2, sinh ngày 03/02/2012. Hiện, cháu N2 đang sinh sống với ông T tại địa chỉ: số A, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bà Đinh Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết con chung khi ly hôn như sau: Bà Đinh Thị N đề nghị ông Nguyễn Đình Trung trực T1 chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đình Phương N2. Bà Đinh Thị N thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng là: 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N2 đủ 18 tuổi.
  3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Toà giải quyết.

- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Đình T nhưng ông T vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Đinh Thị N và ông Nguyễn Đình T là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị N. Về con chung: đề nghị giao con chung cháu Nguyễn Đình Phương N2, sinh ngày 03/02/2012 cho ông Nguyễn Đình Trung trực T1 chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà N thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng là: 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N2 đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Đinh Thị N khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Nguyễn Đình T hiện nay có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: số A, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
  2. [2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Đinh Thị N vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Đình T vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. [3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Đinh Thị N với bị đơn ông Nguyễn Đình T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam theo giấy chứng nhận kết hôn số 17 cấp ngày 11/02/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
  4. [4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà N trong thời gian chung sống giữa bà N và ông T thời gian đầu hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà N đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Hiện, ông T và bà N đã không còn chung sống với nhau. Ông Nguyễn Đình T đang tạm trú tại địa chỉ: Số A, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Còn bà N đang cư trú tại địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Long An. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bị đơn ông Nguyễn Đình T tham gia tố tụng nhưng ông T vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông T vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông T là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, bà N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận.
  5. [5] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình Phương N2, sinh ngày 03/02/2012. Bà N1 yêu cầu ông Nguyễn Đình Trung trực T1 nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đình Phương N2. Bà Nguyệt tự nguyện thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng là: 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N2 đủ 18 tuổi. Xét thấy, hiện nay cháu N2 đang sống chung được ông T chăm sóc nuôi dưỡng phát triển bình thường, ông T có việc làm, có thu nhập đủ điều kiện để nuôi các con phát triển bình thường. Ngoài ra, cháu Phương N2 đã đủ 07 tuổi có nguyện vọng sống chung với ông T. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Phương N2 cho ông Trung trực T1 chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, ghi nhận sự tự nguyện của bà N1 thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng là: 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu N2 đủ 18 tuổi.
  6. [6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  7. [7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  8. [8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị N đối với ông Nguyễn Đình T về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Đình T (Giấy chứng nhận kết hôn 17 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam cấp ngày 11/02/2011).
    • Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đình Phương N2, sinh ngày 03/02/2012 cho ông Nguyễn Đình Trung trực T1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đinh Thị N thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng là 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Nguyễn Đình Phương N2 đủ 18 tuổi.
    • Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đinh Thị N phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007707 ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Bà Đinh Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - UBND xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (01);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 85/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn bà Đinh Thị N với bị đơn ông Nguyễn Đình T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger