TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2025/HS-ST
Ngày: 22-5-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1.Bà Trần Thị Yến Nhi
- 2.Ông Phạm Công Gia
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Đức Tài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST–HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 09/TB-TA ngày 19/5/2025, đối với các bị cáo:
1/. Ngô Văn H, sinh năm 1986 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Thợ sơn nước; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Ngô Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); Vợ: Lê Thị L, đã ly hôn, có 01 con sinh năm 2012
Tiền sự: Không.
Tiền án:
- Ngày 24/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
- Ngày 11/5/2022, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù tại Bản án số 226/2021/HS-ST ngày 24/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Buộc Ngô Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 01 tháng tù.
Nhân thân: ngày 27/12/2005, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T, tỉnh Đồng Nai, từ ngày 02/02/2025 đến nay (Có mặt).
2/. Ngô Thị Ú, sinh năm 1982 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: C khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Ngô Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); Chồng: Hồ Trung D, sinh năm 1978, đã ly hôn, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2011
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 24/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T, tỉnh Đồng Nai, từ ngày 02/02/2025 đến nay (Có mặt).
3/. Nguyễn Thị O, sinh năm 1974 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N1 (đã chết) và bà Lưu Thị B1 (đã chết); Chồng: Nguyễn Văn C, sinh năm 1972. Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2001
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 02/02/2025 đến ngày 05/02/2025 thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
4/. Phạm Thị Kim O1, sinh năm 1968 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm N2 (đã chết) và bà Hà Thị G (đã chết); Chồng: Lê Gia Đ (đã chết). Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 02/02/2025 đến ngày 05/02/2025 thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
5/. Huỳnh Bá Anh H1, sinh năm 1979 tại Thừa Thiên Huế.
Nơi cư trú: Ấp E, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Bá C1, sinh năm 1943 và Lê Thị Ngọc H2, sinh năm 1947; Vợ: Trần Thị Kim T, sinh năm 1981. Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 02/02/2025 đến ngày 05/02/2025 thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
6/. Sẩm Ngũ L1, sinh năm 1983 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Sẩm A Ử, sinh năm 1957 và Lâm Nhộc M, đã chết; Vợ: Nguyễn Thị Trúc L2, sinh năm 1991. Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 02/02/2025 đến ngày 05/02/2025 thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi trưa ngày 02/02/2025, Nguyễn Thị O rủ Ngô Thị Ú, Ngô Văn H, Phạm Thị Kim O1, Huỳnh Bá Anh H1, Sẩm Ngũ L1 đến nhà mình tại ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai để cùng nhau tham gia đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài cát tê 06 lá thì tất cả đồng ý. Để chuẩn bị cho việc đánh bạc, Nguyễn Thị O chuẩn bị sẵn 06 bộ bài tây 52 lá, 01 chiếu nhựa, 01 bàn gỗ để làm công cụ đánh bạc. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Ngô Thị Ú, Ngô Văn H, Phạm Thị Kim O1, Huỳnh Bá Anh H1, Sẩm Ngũ L1 đến nhà Nguyễn Thị O và cùng nhau tham gia đánh bạc, cả nhóm ngồi thành vòng tròn và thống nhất thỏa thuận cách thức đánh bạc như sau: Mỗi người chơi được chia 06 lá bài, giá trị lá bài được xếp theo thứ tự nhỏ dần từ A đến 2. Người chơi đầu tiên được đánh một lá bài bất kỳ xuống, người tiếp theo có hai lựa chọn: nếu có lá bài cùng chất lớn hơn thì được đánh xuống, nếu không có thì phải úp bài. Sau 04 vòng, nếu ai có 01 lá bài lớn nhất trong 04 vòng gọi là “tùng” thì được vào vòng tiếp theo; nếu ai không có “tùng” là thua; nếu trong 05 người chỉ có một người có “tùng” những người còn lại không ai có “tùng” gọi là “gục tùng” thì người chơi phải trả gấp đôi tiền cược ban đầu; nếu có từ 02 người có “tùng” trở lên sẽ bước vào vòng tiếp theo, người có quân bài lớn nhất ở vòng 04 có quyền đưa ra lá bài bất kỳ gọi là “chưng” và giấu 01 quân bài còn lại phía sau; người chơi tiếp theo có quyền lấy “chưng” nếu có quân bài cùng chất lớn hơn người “chưng” ban đầu, nếu không có thì úp bài. Sau khi chưng xong thì các người chơi sẽ so sánh quân bài úp của người chưng, nếu ai có quân bài cùng chất lớn nhất là thắng, nếu nhỏ hơn hoặc không có quân bài cùng chất là thua. Cả nhóm thỏa thuận mỗi ván bài người chơi sẽ phải bỏ ra 10.000 đồng, ai thắng nhất sẽ thu được số tiền 40.000 đồng; nếu tất cả người chơi đều gục tùng sẽ phải trả gấp đôi, người thắng sẽ được số tiền 80.000 đồng và phải trả tiền xâu cho chủ nhà Nguyễn Thị O số tiền 10.000 đồng để phục vụ bài, nước uống.
Vào lúc 14 giờ 55 phút cùng ngày, khi Ngô Thị Ú, Ngô Văn H, Phạm Thị Kim O1, Sẩm Ngũ L1, Huỳnh Bá Anh H1, Nguyễn Thị O đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài cát tê 06 lá thì bị Công an xã P phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Tang vật thu giữ:
- Thu giữ tại chiếu bạc: Số tiền 4.080.000 đồng; 06 bộ bài tây chưa qua sử dụng; 01 chiếu nhựa màu vàng xanh có kích thước 02mx1,58m; 01 bàn gỗ ngang kích thước 78x58cm, bọc một miếng bạt màu trắng.
- Thu giữ của Ngô Thị Ú: số tiền 1.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Redmi màu xanh đen.
- Thu giữ của Ngô Văn H: số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen biển số 60B3 – 623.52.
- Thu giữ của Sẩm Ngũ L1: số tiền 3.700.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu trắng đỏ biển số 60B3 – 344.85.
- Thu giữ của Phạm Thị Kim O1: 01 điện thoại di động hiệu Samsung loại A33 màu cam hồng, 01 xe mô tô hiệu Honda màu đỏ biển số 79Z1 – 237.70.
- Thu giữ của Huỳnh Bá Anh H1 01 xe mô tô hiệu Honda màu đỏ đen biển số 60B3 – 313.55.
Quá trình điều tra đã chứng minh được số tiền Ngô Thị Ú, Ngô Văn H, Phạm Thị Kim O1, Sẩm Ngũ L1, Huỳnh Bá Anh H1, Nguyễn Thị O sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.580.000 đồng, trong đó số tiền 4.080.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc và số tiền 1.500.000 đồng thu giữ trên người Ngô Thị Ú, Ngô Văn H chứng minh được dùng vào mục đích đánh bạc.
Cáo trạng số 91/CT-VKSTP-ĐN ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Ngô Văn H về tội: Đánh bạc, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Thị O, Phạm Thị Kim O1, Huỳnh Bá Anh H1, Sẩm Ngũ L1, Ngô Thị Ú về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Về tội danh: Các bị cáo Ngô Thị Ú, Ngô Văn H, Phạm Thị Kim O1, Sẩm Ngũ L1, Huỳnh Bá Anh H1, Nguyễn Thị O phạm tội “Đánh bạc”.
Về mức hình phạt:
- Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Văn H.
Đề nghị xử phạt: Bị cáo Ngô Văn H từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Thị Út .
Đề nghị xử phạt: Bị cáo Ngô Thị Ú từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thị Kim O1, Sẩm Ngũ L1, Huỳnh Bá Anh H1, Nguyễn Thị O;
Đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Phạm Thị Kim O1 từ 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Bị cáo Sẩm Ngũ L1 từ 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Bị cáo Huỳnh Bá Anh H1 từ 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Bị cáo Nguyễn Thị O từ 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng và quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng mô tả và không tranh luận, bào chữa cho hành vi của mình. Các bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng mô tả. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Vào lúc 14 giờ 55 phút, ngày 02/02/2025 tại nhà Nguyễn Thị O thuộc ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, khi Ngô Thị Ú, Ngô Văn H, Phạm Thị Kim O1, Sẩm Ngũ L1, Huỳnh Bá Anh H1, Nguyễn Thị O có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài cát tê 06 lá thì bị Công an xã P phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 5.580.000 đồng
Như vậy, bị cáo Ngô Văn H là người có 02 tiền án về tội “Đánh bạc” nhưng chưa được xóa án tích, mà lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo Ngô Thị Ú, Phạm Thị Kim O1, Sẩm Ngũ L1, Huỳnh Bá Anh H1, Nguyễn Thị O bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Hành vi của các bị cáo thực hiện không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn gây bất bình trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, để giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo:
[4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ngô Thị Ú có một tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Phạm Thị Kim O1, Sẩm Ngũ L1, Huỳnh Bá Anh H1, Nguyễn Thị O phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
[5]. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó các bị cáo tham gia với vai trò là người thực hành. Do đó, khi quyết định hình phạt, cần áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ.
Các bị cáo Phạm Thị Kim O1, Sẩm Ngũ L1, Huỳnh Bá Anh H1, Nguyễn Thị O phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 35 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Bị cáo Nguyễn Thị O là chủ nhà và là người khởi xướng việc đánh bạc, chuẩn bị công cụ thực hiện hành vi đánh bạc, nên hình phạt tiền của bị cáo Nguyễn Thị O phải cao hơn các bị cáo khác; Bị cáo Kim O1, bị cáo L1 sử dụng tiền vào đánh bạc nhiều hơn bị cáo H1 nên mức hình phạt tiền của bị cáo Kim O1, bị cáo L1 chỉ thấp hơn bị cáo Nguyễn Thị O và cao hơn bị cáo H1.
Từ nội dung đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử cân nhắc, quyết định mức án phù hợp đối với từng các bị cáo, vừa thể hiện sự nghiêm minh và sự khoan hồng của chính sách pháp luật.
[6]. Về các biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền 5.580.000 đồng là công cụ, phương tiện dùng vào mục đích phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước
- Đối với 06 bộ bài tây chưa qua sử dụng; 01 chiếu nhựa màu vàng xanh có kích thước 02mx1,58m; 01 bàn gỗ ngang kích thước 78x58cm, bọc một miếng bạt màu trắng là công cụ dùng vào mục đích đánh bạc không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.700.000 đồng của bị cáo Sẩm Ngũ L1 để đảm bảo công tác thi hành án.
- Đối với 01 điện thoại di động Redmi màu xanh đen thu giữ của Ngô Thị Ú; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen biển số 60B3 – 623.52 thu giữ của Ngô Văn H; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu trắng đỏ biển số 60B3 – 344.85 thu giữ của Sẩm Ngũ L1; 01 điện thoại di động hiệu Samsung loại A33 màu cam hồng, 01 xe mô tô hiệu Honda màu đỏ biển số 79Z1 – 237.70 thu giữ của Phạm Thị Kim O1; 01 xe mô tô hiệu Honda màu đỏ đen biển số 60B3 – 313.55 thu giữ của Huỳnh Bá Anh H1 là tài sản hợp pháp của Ngô Thị Ú, Ngô Văn H, Phạm Thị Kim O1, Sẩm Ngũ L1, Huỳnh Bá Anh H1, không dùng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trao trả cho các chủ sở hữu trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[8]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1/. Căn cứ vào: Điểm d khoản 2 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Văn H.
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02/02/2025.
2/. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Thị Út .
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thị Ú phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Thị Ú 08 (T1) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02/02/2025.
3/. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Thị Kim O1, Sẩm Ngũ L1, Huỳnh Bá Anh H1, Nguyễn Thị O.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Kim O1, Sẩm Ngũ L1, Huỳnh Bá Anh H1, Nguyễn Thị O phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị O 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Xử phạt: Bị cáo Sẩm Ngũ L1 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Kim O1 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Bá Anh H1 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.580.000 đồng.
- Tịch thu tiêu hủy 06 bộ bài tây chưa qua sử dụng; 01 chiếu nhựa màu vàng xanh có kích thước 02mx1,58m; 01 bàn gỗ ngang kích thước 78x58cm, bọc một miếng bạt màu trắng.
- Tiếp tục tạm quản lý số tiền 3.700.000 đồng của bị cáo Sẩm Ngũ L1 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú để đảm bảo cho việc thi hành án.
(Số tiền theo biên lai thu tiền số 0005590 ngày 24/4/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai và theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú ngày 24/4/2025).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Bá Đại |
Bản án số 85/2025/HS-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 85/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn H và đồng phạm bị xét xử về tội "Đánh bạc"
