|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/HS-ST
Ngày: 21-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đỗ Thị Hiên - Giáo viên - Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Bà Đoàn Thị Duyên - Hội Luật gia huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 08/10/2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 06/5/2007; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Xuân H và con bà Đoàn Thị H1; chưa có vợ, con.
Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 05/10/2023, Công an huyện K xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi cố ý gây thương tích theo Quyết định xử phạt hành chính số 110 ngày 26/12/2023, đã chấp hành xong ngày 06/02/2024.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/8/2024 (trong vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 24/8/2024). Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, bị cáo bị trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
- Phùng Trọng Đ, sinh ngày 05/12/2006; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn A, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phùng Cao T và con bà Nguyễn Thị M; chưa có vợ, con.
Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 05/10/2023, Công an huyện K xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi cố ý gây thương tích theo Quyết định xử phạt hành chính số 109 ngày 26/12/2023, đã chấp hành xong ngày 05/01/2024.
Nhân thân: Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 03 năm 09 tháng tù về 02 tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/6/2024 đến ngày 28/6/2024 chuyển tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, bị cáo bị trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa:
- Bà Nguyễn Thị H2 - Trợ giúp viên- Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng L (có mặt)
- Ông Nguyễn Tiến S - Trợ giúp viên- Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T bào chữa cho bị cáo Phùng Trọng Đ (có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:
- Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1984 và bà Đoàn Thị H1, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Là người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hoàng L.
- Ông Phùng Cao T, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1985 (có mặt)
Trú tại: Thôn A, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Là người đại diện hợp pháp của bị cáo Phùng Trọng Đ.
- Người làm chứng:
- Chị Lang Thị Á, sinh năm 2006 (vắng mặt)
- Chị Lang Thị L1, sinh năm 2007 (vắng mặt)
Đều trú tại: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Hà Minh H3, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn Đ, xã S, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Anh Ngô Quốc A, sinh năm 2006 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Người chứng kiến:
- Anh Dương Ngọc H4, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Trú tại: Số nhà D, ngõ C, đường L, tổ G, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Ông Đoàn Hữu H5, sinh năm 1964 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Đoàn thanh niên CSHCM xã H và đại diện Đoàn thanh niên CSHCM xã V (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 17/6/2024, tại khu nhà trọ do ông Nguyễn Ngọc H6 làm chủ, bị cáo Nguyễn Hoàng L đã cùng một số đối tượng trong đó có bị cáo Phùng Trọng Đ (là bạn xã hội) cùng nhau tổ chức và sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, bị cáo L mang theo một túi nilon có nẹp cài nhựa, viền màu đỏ trong đó chứa ba viên ma túy tổng hợp (gồm Methamphetamine, MDMA và Ketamine) có tổng khối lượng 1,1359 gam và ma túy loại Ketamine có khối lượng 0,7291 gam điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, biển kiểm soát 17B3-641.06 rời phòng trọ, đi ăn sáng rồi tìm nhà nghỉ để ngủ và sinh hoạt. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, biết bị cáo Đ có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo L đã sử dụng ứng dụng Messenger gọi điện hẹn bị cáo Đ đến khu vực ngã tư G thuộc xã Đ, thành phố T để cho bị cáo Đ số ma túy trên. 30 phút sau, bị cáo Đ đến, bị cáo L đưa số ma túy trên cho bị cáo Đ, đồng thời bị cáo L nhờ bị cáo Đ mang xe mô tô về khu nhà trọ hộ. Sau khi nhận số ma túy do bị cáo L đưa, bị cáo Đ cất vào túi quần đang mặc phía trước bên phải rồi điều khiển xe mô tô của bị cáo L đi về. Khi đến khu vực đường D, đoạn cầu R thuộc thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phát hiện bắt quả tang. Bị cáo Đ khai nhận đây là ma túy được bị cáo L cho, mục đích để bị cáo Đ sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; lập biên bản tạm giữ, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản quản lý tài sản theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Đ, không phát hiện quản lý thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Sau khi đưa ma túy cho bị cáo Đ thì bị cáo L bỏ trốn, đến ngày 25/8/2024, bị cáo L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K bắt, tạm giữ và khởi tố về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 24/8/2024 tại thôn B, xã V, huyện K.
- Bản kết luận giám định số 936/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật M gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine, có khối lượng 1,1359 gam; Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,7291 gam.
Cáo trạng số 89/CT-VKSKX ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng L và Phùng Trọng Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng L và Phùng Trọng Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 90; điểm a Khoản 2 Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L mức án từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 55; Khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 90; điểm a Khoản 2 Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phùng Trọng Đ mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù, tổng hợp hình phạt 03 năm 09 tháng tù về 02 tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng tại bản án số 89/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là từ 05 năm 03 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.
- Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 90; điểm a Khoản 2 Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự:
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của các bị cáo còn lại sau giám định.
- Trả lại cáo Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, đã cũ, vỏ sau bị nứt vỡ.
- Trả lại bị cáo L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, không có gương chiếu hậu, biển kiểm soát 17B3-641.06.
- Về án phí: Áp dụng các Điều 12; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
*) Tại phiên tòa, người bào chữa và người đại diện hợp pháp của các bị cáo không tranh luận, đề nghị HĐXX xem xét đến độ tuổi khi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không tranh luận gì.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Thái Bình và của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người làm chứng và người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
- Tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan điều tra. Lời khai của các bị cáo là chứng cứ kết tội lẫn nhau, ngoài ra còn được chứng minh bằng các chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 15 giờ 40 phút ngày 18/6/2024 (bút lục số 01, 02); biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản kiểm tra và quản lý điện thoại của do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập ngày 18/6/2024 (Bút lục số 04 đến 06); kết luận giám định số 936/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (bút lục số 10, 11); kết luận giám định số 940/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (bút lục số 16); kết luận giám định số 4896/KL-KTHS ngày 10/7/2024 của V Bộ C (bút lục số 21); lời khai của những người làm chứng là chị Lang Thị Á, chị Lang Thị L1, anh Hà Minh H3 và anh Ngô Quốc A (bút lục số 199 đến 211); lời khai của người chứng kiến là anh Dương Ngọc H4 và ông Đoàn Hữu H5 (bút lục số 192 đến 198). Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội.
- Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, tại khu vực ngã tư G thuộc xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Hoàng L đã cho bị cáo Phùng Trọng Đ 03 viên nén ma túy tổng hợp gồm Methamphetamine, MDMA và Ketamine có tổng khối lượng là 1,1359 gam và 0,7291 gam Ketamine để bị cáo Đ sử dụng cho bản thân. Khi bị cáo Đ mang theo số ma túy trên đi đến khu vực cầu R thuộc thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình thì bị Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang.
- Vì vậy, các bị cáo Nguyễn Hoàng L và Phùng Trọng Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 249: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a)...i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
- Xét tính chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Khi phạm tội, cả 02 bị cáo đều dưới 18 tuổi, do đó, áp dụng Điều 90; điểm a Khoản 2 Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và độ tuổi khi phạm tội của từng bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo, và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm trong xã hội. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo L khởi xướng, cung cấp ma túy cho bị cáo Đ, do đó, bị cáo giữ vai trò thứ nhất trong vụ án và phải chịu mức hình phạt cao nhất. Bị cáo Đ tiếp nhận ý chí của bị cáo L và nhận ma túy do bị cáo L cho mục đích để sử dụng cho bản thân, do đó, bị cáo Đ phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo L. Do các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, các bị cáo dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Cả 02 bị cáo đều có 01 tiền sự về hành vi cố ý gây thương tích chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo Đ đang phải chấp hành phạt 03 năm 09 tháng tù về các tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 89/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình. Do đó, áp dụng Khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đ phải chấp hành hành hình phạt chung của 02 bản án. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại khu nhà trọ do ông Nguyễn Ngọc H6 làm chủ vào ngày 17/6/2024 của bị cáo Nguyễn Hoàng L và một số đối tượng khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đang tiếp tục tiến hành điều tra xác minh để giải quyết theo quy định của pháp luật là phù hợp.
- Về nguồn gốc ma tuý: Bị cáo Nguyễn Hoàng L khai mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực chợ C1, thành phố T vào chiều ngày 16/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không xác định được người bán nên không có căn cứ xử lý.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Số ma túy thu của các bị cáo còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 936/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T ghi “Vật chứng quản lý của Phùng Trọng Đ, sinh năm 2006, HKTT: Thôn A, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình” và 01 phong bì ghi số 4896/KL-KTHS của V Bộ C “Kính gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T: Mẫu hoàn trả lại sau giám định” là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, đã cũ, vỏ sau bị nứt vỡ thu giữ của bị cáo Đ là tài sản hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, biển kiểm soát 17B3-641.06, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quản lý của bị cáo Đ. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên đăng ký mang tên anh Trịnh Khắc Đ1, sinh năm 1999, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Đầu năm 2024, bị cáo L đã mua lại chiếc xe trên của anh Đ1 với giá 14 triệu đồng nhưng chưa làm thủ tục mua bán xe và sang tên chủ sở hữu, anh Đ1 không có yêu cầu đề nghị gì đối với chiếc xe trên. Do đó, chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của bị cáo L nên trả lại cho bị cáo.
- Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng L và Phùng Trọng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 90; điểm a Khoản 2 Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 55; Khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 90; điểm a Khoản 2 Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phùng Trọng Đ 02 (Hai) năm tù, tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về 02 tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 89/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình buộc bị cáo Phùng Trọng Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/6/2024.
- Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 90; điểm a Khoản 2 Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự:
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của các bị cáo còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 936/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T ghi “Vật chứng quản lý của Phùng Trọng Đ, sinh năm 2006, HKTT: Thôn A, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình” và 01 phong bì ghi số 4896/KL-KTHS của V Bộ C ghi: “Kính gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T: Mẫu hoàn trả lại sau giám định”.
- Trả lại bị cáo Phùng Trọng Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, vỏ sau bị nứt vỡ, đã cũ.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Hoàng L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, không có gương chiếu hậu, biển kiểm soát 17B3-641.06.
(Vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đang quản lý).
- Về án phí: Áp dụng các Điều 12; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Hoàng L và Phùng Trọng Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo Phùng Trọng Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/10/2024. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hoàng L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Trọng Đức
