Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/DS-PT

Ngày 14 tháng 4 năm 2025

V/v: tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm

Các Thẩm phán: Bà Đào Nữ Ngọc Lan và bà Trịnh Ngọc Thúy;

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Mỹ Duyên, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 67/2027/QĐXXPT-DS ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N năm 1964; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
  2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T năm 1969; địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T1 năm 1975; địa chỉ: Tổ G, ấp P, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
  4. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N năm 1964; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N1 bày: Vào ngày 10/8/2024 (âm lịch), bà N2 ông Huỳnh Văn T2 thuận miệng về hợp đồng đặt cọc mua bán lúa. Bà N3 tiền cọc cho ông T3 đồng, thỏa thuận đến ngày 18/8/2024 (âm lịch) bà N4 định giá lúa (theo giá thị trường tại thời điểm trước cắt lúa 01 ngày), nếu thỏa thuận được giá thì ngày 19/8/2024 âm lịch sẽ tiến hành cắt lúa và thực hiện mua bán, giao nhận tiền với nhau. Đến ngày 18/8/2024 âm lịch, do có việc đột xuất và không có đủ ghe chở lúa, nên sáng ngày 18/8/2024 âm lịch bà N16 điện thoại cho ông T4 về việc không thể lấy lúa như đã thỏa thuận, được ông T5 ý và nói sau khi chủ lúa bán lúa xong sẽ hoàn lại tiền cọc cho bà NĐến ngày 22/8/2024 âm lịch, sau khi chủ lúa đã bán lúa xong, bà N16 đến gặp ông T22 lấy lại tiền cọc lúa nhưng ông T6 chủ lúa đã bán giá thấp hơn so với giá thị trường và đã lấy tiền cọc đã nhận từ bà N5 qua thì ghe lúa khác nên không trả lại tiền cọc. Bà N6 cầu buộc ông Huỳnh Văn T7 trách nhiệm trả lại số tiền cọc lúa là 15.000.000 đồng, không yêu cầu ông Trần Văn T8 trách nhiệm liên đới trả số tiền đặt cọc.

- Bị đơn ông Huỳnh Văn T9 trình bày: Giữa ông và bà N16 thỏa thuận hợp đồng đặt cọc số tiền 15.000.000 đồng để mua lúa của ông Trần Văn T10 như bà N1 bày. Sau khi nhận tiền cọc lúa của Nữ, cùng ngày 10/8/2024 âm lịch, ông cũng đã ký hợp đồng mua bán lúa với ông Trần Văn T11 tại tổ G, ấp P, xã L, huyện T, tỉnh An GiangNội dung hợp đồng nêu rõ ngày cắt lúa ngày 19/8/2024 âm lịch; ngày cân và nhận lúa ngày 20/8/2024 âm lịch. Việc mua bán này ông T12 vai trò là cò mua lúa, là người trung gian thu tiền cọc từ bà N7 giao lại nông dân là ông T13 như thỏa thuận trong hợp đồng thì ông T1cắt lúa theo ngày đã định, bà N16 trách nhiệm đưa ghe vào lấy lúa.

Đến ngày 18/8/2024 âm lịch, bà N16 gọi điện kêu ông T14 ghe khác để bán, bà N8 bị kẹt ghe không lấy lúa được, bà N9 03 ngày sau đến lấy lúa mới trống ghe. Do bà N10 chối nhận lúa ông T1như đã thỏa thuận nên đã làm giảm chất lượng lúa, ông T15 kêu ghe khác vào mua. Việc bà N11 mua lúa đúng ngày nên mất cọc. Ông T1không đồng ý trả tiền lại cọc cho ông T16 ông T20 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T17 bày: Ông có nhận tiền cọc do ông T18 15.000.000 đồng vào ngày 10/8/2024 âm lịch. Ông T1là chủ ruộng lúa, còn ông T19 môi giới. Vào ngày 19/8/2024 âm lịch, ông T1thu hoạch lúa. Ngày 20/8/2024 âm lịch, bà N16 đến trực tiếp ruộng của ông T1xem lúa, nhưng bà N11 chịu nhận lúa. Đến ngày 22/8/2024 âm lịch, do lúa đã ủ lên mầm nên bắt buộc phải bán cho ghe khác với giá 6.800 đồng/kg và phải tính chung 15.000.000 đồng tiền cọc cho ghe lúa mới đồng ý mua, nếu bán ngày 20/8/2024 âm lịch thì giá lúa là 7.000đ/kg. Khi cắt lúa ông T7 gọi điện thoại cho bà N12 nhận lúa, nhưng bà N13 cứ bán cho ghe khác, bà N8 từ chối nhận lúa của ông T1nên mất cọc.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” của bà Nguyễn Thị N14 với ông Huỳnh Văn T9

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N15 người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên không phải chịu án phí. Ông Huỳnh Văn T20 phải chịu án phí.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/12/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N16 đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết buộc ông T27 lại tiền cọc 15.000.000 đồng.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Bà N17 định vào ngày 20/8/2024 âm lịch bà có đến lấy mẫu lúa tại ruộng của ông T1nhưng không mua lúa vì chỉ lấy mẫu lúa giùm cho thương lái khác.

- Bị đơn ông T21 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 05/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Theo thỏa thuận vào ngày 10/8/2024 âm lịch, bà N3 tiền cọc 15.000.000 đồng cho ông Huỳnh Văn T22 mua lúa. Thống nhất ngày cắt lúa là 19/8/2024 âm lịch và thực hiện mua bán lúa, giao nhận tiền với nhau. Ông T23 lập hợp đồng mua bán lúa với ông T1và thỏa thuận thời gian cắt lúa ngày 19/8/2024 âm lịch. Tuy nhiên, đến ngày cắt lúa, bà N11 đến và cũng không mua lúa như thỏa thuận.

Theo bà N1 bày thì bà có gọi điện thông báo cho ông T24 không có ghe, được ông T5 ý hứa trả lại tiền cọc. Tuy nhiên ông T20 thừa nhận vì ông chỉ làm trung gian nhận tiền cọc của bà N3 lại cho ông T1

Ông T1khai ngày cắt lúa ông Tđiện thoại cho bà N4 nhận lúa nhưng bà N18 bán cho người khác và từ chối mua lúa của ông T10

Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bà N19 có đến lấy mẫu lúa tại ruộng ông T1vào ngày 20/8/2024 âm lịch nhưng không mua. Như vậy, bà N16 lỗi không thực hiện đúng theo thỏa thuận về việc đặt cọc với ông T là thực hiện mua bán lúa vào ngày cắt lúa (19/8/2024 âm lịch). Bà N20 rằng có thông báo với với ông T25 việc không mua lúa được do không có ghe chở lúa và được ông T5 ý nhưng bà N11 cung cấp được chứng cứ chứng minh. Việc ông Tlvà ông T26 chối trả lại tiền cọc đã nhận của bà N15 có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N15 có căn cứ.

Bà Nkháng cáo đề nghị xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện nhưng không cung cấp được chứng cứ nào khác nên không có cơ sở chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

Tuy nhiên, trong phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên: “Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” của bà Nguyễn Thị N14 với ông Huỳnh Văn T9” mà chưa nêu cụ thể yêu cầu khởi kiện của bà N21 bị đơn thực hiện nghĩa vụ gì là chưa rõ ràng, cụ thể nên cần sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm: bà N15 người cao tuổi có đơn xin niễn án phí nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị N22;

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang về cách tuyên.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N23 việc buộc ông Huỳnh Văn T27 lại tiền đặt cọc 15.000.000 đồng theo hợp đồng đặt cọc ngày 10/8/2024 âm lịch.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N22 được miễn nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Tri Tôn;
  • - Chi cục THADS huyện Tri Tôn ;
  • - Tòa Dân sự;
  • - Phòng Thanh tra, KTr và THA;
  • - Văn phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/DS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 85/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua lúa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger