Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/HS-ST

Ngày 08/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cát Hoàng Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Văn Có
  2. Bà Nguyễn Thị Lý

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Bích Tuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 424/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 và Thông báo số 182/2025/TB-TA đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H

, sinh năm 1993 tại: Khánh Hòa; Nơi cư trú: Ô, Lô F, H, P, N, Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B-SN 1966; con bà Lê Thị H1 –SN 1969; tiền án:Không;

Tiền sự: Ngày 26/10/2021, Công an thành phố N, tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 220/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Nhân thân: Ngày 20/07/2023, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt Nguyễn Văn H 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 207/HSST.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/02/2025; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ủy Ban nhân dân xã P – thành phố N

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc C – Chủ tịch UBND xã Phước Đồng

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H2, SN 1970 – Trưởng thôn Thành Đạt

Nơi cư trú: Ô 41 Lô 1574 Hòn Rớ, xã Phước Đồng, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Chỗ ở: Thôn Thành Đạt, xã Phước Đồng, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Văn T – sinh năm 1997

Nơi cư trú: D Tổ F H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Chỗ ở hiện tại: 33 V, P, P, N, Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 5/11/2022, Nguyễn Văn H đi bộ đến Nhà văn hóa thôn T1 - T, xã P do bà Nguyễn Thị H2 (Trưởng thôn quản lý) thấy không có người trông coi nên H leo tường vào bên trong nhà văn hóa lén lút lấy trộm 08 khung cửa kim loại kích thước (2,2x1)m và 02 khung cửa kim loại kích thước (0,6x1,2)m. Sau đó, H đưa số tài sản vừa lấy trộm đi tìm tiệm thu mua phế liệu để bán thì gặp Đ (chưa rõ lai lịch) H nói: “đi nhặt ve chai được” rồi nhờ Đ điều khiển xe máy (không rõ biển số, nhãn hiệu) chở đến tiệm thu mua phế liệu tại số B đường V, thôn P, xã P bán cho anh Trần Văn T với số tiền 800.000 đồng chia cho Đ 400.000đồng là tiền công chở, số tiền còn lại H nhờ Đ đi mua ma túy về sử dụng hết. Qua kiểm tra tài sản, bà H2 phát hiện bị mất trộm tài sản đã đến Công an xã P trình báo. Đến khoảng 21 giờ 45 cùng ngày, Công an xã P đã đưa H về làm việc khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 436/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: 02 bộ cánh cửa chính gồm 08 cánh cửa khung kim loại; 01 bộ cánh cửa sổ gồm 02 cánh cửa khung kim loại có giá trị là 2.200.000đồng.

Qúa trình điều tra bị can Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải.

Vật chứng, thu giữ trong vụ án: 10 khung cửa kim loại màu xanh nước biển gấp đôi lại(đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp)

Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở để kết luận, bị cáo Nguyễn Văn H đã trộm cắp 02 bộ cánh cửa chính gồm 08 cánh cửa khung kim loại; 01 bộ cánh cửa sổ gồm 02 cánh cửa khung kim loại có giá trị 2.200.000 đồng của Ủy ban nhân dân xã P.

Như vậy, Cáo trạng số 303/CT-VKS-HS ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã lén lút chiếm đoạt tài sản, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân, cũng như gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu và có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, trong vụ án này, giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo lại bỏ trốn gây khó khăn cho công việc giải quyết án. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ vừa nêu giảm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện các nguyên tắc nhân đạo, công bằng của chính sách hình sự của Nhà nước.

[4] Về căn cứ quyết định hình phạt: Mức hình phạt do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn H là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất nên không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).

  1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 25/02/2025.
  2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND TP. Nha Trang;
  • - Cơ quan CSĐT CA Tp. Nha Trang;
  • - Chi cục THADS TP. Nha Trang;
  • - Lưu: Án văn; Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Cát Hoàng Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 85/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hiếu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger