|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 85/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06-3-2025 V/v: Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Bảo
Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Công Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.
Vào ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 15/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Minh C, sinh năm 1992; số Căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số B đường P, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số B đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (có mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Ngọc C1, sinh năm 1992; số Căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số B đường P, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 06-01-2025, bản tự khai ngày 13-01-2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Lưu Thị Minh C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Ngọc C1 có thời gian tìm hiểu 02 năm. Sau đó, vợ chồng tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào năm 2018, hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường C), thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 07-03-2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại: Số B đường P, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận đến đầu tháng 11-2024 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng sống không hợp nhau trong cuộc sống hàng ngày, hai bên thường xuyên xảy ra va chạm cãi nhau. Đến ngày 09-11-2024 do mâu thuẫn quá trầm trọng nên chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại địa chỉ: Số B đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định để sinh sống, vợ chồng chính thức ly thân từ thời điểm đó cho đến này. Hiện tại, chị xác định tình cảm không còn khả năng khắc phục nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Ngọc C1.
Về con chung: Chị và anh Trần Ngọc C1 có 02 con chung là Trần Hoàng M, sinh ngày 15-4-2020, giới tính: Nam; Trần Bảo N, sinh ngày 10-3-2022, giới tính: Nữ. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị nuôi dưỡng cháu Trần Bảo N, anh Trần Ngọc C1 nuôi dưỡng cháu Trần Hoàng M.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các vấn đề khác chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự khai ngày 16-01-2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là anh Trần Ngọc C1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lưu Thị Minh C có thời gian tìm hiểu 02 năm. Sau đó, vợ chồng tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường C), thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 07-03-2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại: Số B đường P, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Quá trình chung sống: Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng tháng 9-2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn liên quan đến vấn đề tình cảm và gia đình. Vợ chồng đã cố gắng hòa giải nhưng không có kết quả. Đến tháng 10-2024 thì vợ chồng chính thức ly thân. Đến nay, chị Lưu Thị Minh C đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh hoàn toàn nhất trí do cả hai không còn tình cảm và mâu thuẫn không thể khắc phục được.
Về con chung: Anh và chị Lưu Thị Minh C có 02 con chung là Trần Hoàng M, sinh ngày 15-4-2020, giới tính: Nam và Trần Bảo N, sinh ngày 10-3-2022, giới tính: Nữ. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh nuôi dưỡng cả 02 con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các vấn đề khác anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 14-01-2025 của Tòa án tại địa phương nơi cư trú của chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 xác nhận: Năm 2018, chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 kết hôn, sau đó vợ chồng sinh sống tại địa phương. Về nguyên nhân mâu thuẫn, điều kiện hoàn cảnh gia đình trong quá trình chung sống giữa chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 thì địa phương không nắm được. Hiện tại, vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 11-2024 cho đến nay.
Tại phiên tòa: Chị C1 và anh C1 đều thuận tình ly hôn. Con chung: Chị C1 xin nuôi cháu Trần Bảo N, không yêu cầu anh C1 cấp dưỡng nuôi con; anh C1 xin nuôi cả hai cháu Trần Hoàng M và Trần Bảo N, không yêu cầu chị C1 cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng chị C1 và anh C1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Án phí chị C1 tự nguyện nộp toàn bộ.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55, Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 16/5/2024.
- Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1.
- Giao cho chị Lưu Thị Minh C nuôi dưỡng con chung Trần Bảo N, sinh ngày 10-3-2022; anh Trần Ngọc C1 nuôi dưỡng con chung Trần Hoàng M, sinh ngày 15-4-2020.
- Về cấp dưỡng nuôi con; tài sản, nghĩa vụ chung của vợ chồng: Chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Chị Lưu Thị Minh C tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1. Về tranh chấp được giải quyết trong vụ án:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Lưu Thị Minh C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Trần Ngọc C1; giải quyết về người trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Bị đơn là anh Trần Ngọc C1 không có yêu cầu phản tố. Do vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn là anh Trần Ngọc C1 có địa chỉ cư trú tại: Số B đường P, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc Châu A có thời gian tìm hiểu 02 năm trước khi kết hôn, sau đó đã tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào năm 2018. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường C), thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 07-03-2018. Như vậy, hôn nhân giữa chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị Lưu Thị Minh C và Anh Trần Ngọc C1 có chung sống tại: Số B đường P, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận cho đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng không hòa hợp trong sống hàng ngày, mâu thuẫn về gia đình, tình cảm. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay. Hiện tại, chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 đều thuận tình ly hôn. Xét thấy, các đương sự tự nguyện thuận tình ly hôn nên Hội đồng xét xử có căn cứ công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.2. Về con chung:
Chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 có 02 con chung là: Trần Hoàng M, sinh ngày 15-4-2020, giới tính: Nam và Trần Bảo N, sinh ngày 10-3-2022, giới tính: Nữ. Chị C1 có nguyện vọng xin nuôi dưỡng con chung Trần Bảo N, không yêu cầu anh C1 cấp dưỡng nuôi con. Anh Trần Ngọc C1 có nguyện vọng xin nuôi 02 con Trần Hoàng M, Trần Bảo N, không yêu cầu chị C1 cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, cháu Trần Hoàng M đã 05 tuổi, cháu Trần Bảo N chưa đủ 36 tháng tuổi, cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử sẽ giao con chung Trần Bảo N, sinh ngày 10-3-2022, giới tính: Nữ cho chị Lưu Thị Minh C trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Trần Hoàng M, sinh ngày 15-4-2020, giới tính: Nam cho anh Trần Ngọc C1 trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.
2.3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:
Chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho nhau nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
2.4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:
Chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV và Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 16/5/2024 thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định như sau: Chị Lưu Thị Minh C tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV và Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 16/5/2024.
-
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1.
-
Về con chung: Giao chị Lưu Thị Minh C trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Bảo N, sinh ngày 10-3-2022, giới tính: Nữ; giao anh Trần Ngọc C1 trực tiếp nuôi con chung Trần Hoàng M, sinh ngày 15-4-2020, giới tính: Nam.
Chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho nhau nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 vẫn có đầy đủ quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Lưu Thị Minh C tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị Lưu Thị Minh C đã nộp tại biên lai số 0002566 ngày 10-01-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Trả lại cho chị Lưu Thị Minh C 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).
-
Quyền kháng cáo:
Chị Lưu Thị Minh C và anh Trần Ngọc C1 có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phạm Thị Thu Định |
Bản án số 85/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 85/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
