Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 85/2025/DS-PT

Ngày: 27-02- 2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hiền

Bà Đinh Cẩm Đào

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 598/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 191/2024/DS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Lư Minh Đ, sinh năm 1970
  • Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  • Người đại diện theo uỷ quyền của ông Đ: Bà Lư Mộng X, sinh năm 1988 (Theo giấy uỷ quyền ngày 26/08/2022).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  • Bị đơn: Ông Dương Văn D, sinh năm 1965;
  • Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1967.
  • Địa chỉ cư trú: Áp E, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  • Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông D, bà P: Ông Mai Thiên T – Là Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
  • Người kháng cáo: Ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị P là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lư Minh Đ và người đại diện theo ủy quyền là bà Lư Mộng X thống nhất trình bày:

Ông Lư Minh Đ có một phần đất được Ủy ban nhân dân huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2001, thuộc thửa số 0110, 0120 tờ bản đồ số 09, tổng diện tích 8.650 m² có vị trí tứ cận như sau: Phía đông giáp đất ông Lư Văn P1, phía tây giáp lộ xe, phía bắc giáp đất ông Lâm Bá T1, phía nam giáp đất ông Dương Văn D, nguồn gốc đất là ông chuyển nhượng lại của ông Nguyễn Văn D1. Do gia đình khó khăn nên ông Đ thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền tại Ngân hàng thời gian khá lâu. Ông D có yêu cầu ông Đ cặm ranh đất nhưng do ông không có nắm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong tay nên ông không đồng ý cặm cùng ông D. Do ông ngoại của ông Đ là ông Lâm Bá T1 sợ lời qua tiếng lại với bên phía vợ chồng ông D nên có kêu ông Đ để cho vợ chồng ông D, bà P tự cặm trụ đá, ông Đ không tham gia, khi trả nợ Ngân hàng xong lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về thì xem lại vị trí, diện tích đất có đúng không, sau khi lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về, đối chiếu sơ đồ đất, đo lại diện tích đất thì phần trụ đá vợ chồng ông D cặm lấn sang phần đất của ông Đ ngang mặt tiền 8,0 mét; ngang mặt hậu 8,0 mét; dài 86 mét nên xảy ra tranh chấp.

Tại phiên toà ông Lư Minh Đ yêu cầu ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị P trả diện tích đất đã lấn chiếm, theo đo đạc thực tế của Trung tâm K ngày 24/5/2024 là 705,2 m².

* Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị P trình bày:

Ông D, bà P không đồng ý với yêu cầu của ông Đ, vì không có lấn chiếm đất của ông Đ, đất của ông hiện đang sử dụng có nguồn gốc là đất phụ ấm cho lại vợ chồng ông, bà. Hiện trạng phần đất từ khi vợ chồng ông, bà nhận không có thay đổi và canh tác sử dụng từ đó cho đến nay. Còn đất của ông Đ là đất cố của ông Trần Văn L, ông Lâm C cho ông cha ông Đ là ông Lư Văn P1. Ranh giới đất của ông và đất ông Đ đã có từ lâu, từ chủ đất trước đó đã có trụ đá. Đất ông tranh chấp rất nhiều lần từ năm 1997 với nhiều người khác thì đều xác định ranh đất từ trụ đá đó để xác định tranh chấp đến khi tranh chấp với ông Nguyễn Văn N vẫn lấy trụ đá đó để đo trở qua phần đất tranh chấp. Đất của ông từ trước tới nay tiếp giáp với đất ông Đ đang sử dụng, việc ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thế nào ông cũng không biết. Ông Đ xác định ông tự cắm trụ đá là không đúng, việc cặm trụ đá có ông Nguyễn Văn R là Bí Thư chi bộ và ông Nguyễn Thanh T2 là Trưởng ấp chứng kiến nhưng không có lập biên bản xác định mốc giới cặm trụ đá.

Diện tích đất của ông được Ủy ban nhân dân huyện U là 10.234 m², theo quyết định cấp đất chỉ có 10.000 m² nhưng khi đo đạc có dư ra nên xã làm thủ tục cấp là 10.234 m², ông Đ chỉ vị trí tranh chấp ở phía sau hậu đất là không đúng, theo ông biết là còn chạy vô khoản 2 công nữa mới hết đất của ông Đ nên trong quá trình đo đạc ông, bà không cho đo phần đất hiện tại của ông bà đang quản lý, sử dụng. Ông D, bà P không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của ông Đ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 191/2024/DS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh quyết định:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lư Minh Đ, về việc yêu cầu ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị P giao, trả phần đất có diện tích đo đạc thực tế 705,2 m².
  2. Buộc ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị P di dời, khai thác, tận thu 03 cây dừa đang cho trái; 11 cây dừa nhỏ; 09 cây Mai vàng; 6 cây bông giấy; 01 cây xanh; 02 cây ngũ sắc; 01 cây dâu; 01 cây chôm chôm khỏi phần đất trả lại cho ông Lư Minh Đ diện tích đất 705,2 m² theo bản vẽ hiện trạng ngày 24/05/2024, của Trung tâm K có các cạnh tiếp giáp như sau: cạnh M6 - M7 giáp lộ bê tông dài 7,56 mét, cạnh M5 - M8, giáp phần đất của ông Lư Minh Đ dài 8,98 mét, cạnh M5 - M6 giáp với đất ông Dương Văn D dài 86,56 mét, cạnh M7 - M8 giáp với đất ông Lư Minh Đ dài 86,49 mét, đất tại ấp E, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29/10/2024, ông Dương Văn D, bà Nguyễn Thị P có đơn kháng cáo, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày: Ông Lư Minh Đ có một phần đất được Ủy ban nhân dân huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2001, thuộc thửa số 0110, 0120 tờ bản đồ số 09, tổng diện tích 8.650 m². Do trước đây ông dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp để vay tiền Ngân hàng, nên không nhớ rõ kích thước cụ thể nên không có cặm ranh với ông D, bà P, từ đó vợ chồng ông D, bà P tự cặm trụ đá, ông không tham gia, không có ký tên vào biên bản giáp ranh; Tại phiên toà ông D, bà P cho rằng ông có tham gia chứng kiến, thoả thuận cặm ranh với ông D, bà P khi ông tranh chấp đất với ông Nguyễn Văn N Vào năm 2016 là không đúng, ông không đồng ý. Đối với phần đất tranh chấp hiện ông D, bà P đang sử dụng thì trước đây ông Đ có yêu cầu ông D, bà P trả lại, có báo chính quyền địa phương giải quyết nhưng không có biên bản. Đến năm 2022, khi lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về, đối chiếu sơ đồ đất, đo lại diện tích đất thì phần trụ đá vợ chồng ông D cặm lấn sang phần đất của ông nên ông yêu cầu trả lại diện tích theo đo đạc thực tế của Trung tâm K ngày 24/5/2024 là 705,2 m² . Đối với các cây dừa có cho trái trên phần đất tranh chấp là do chủ đất cũ là ông Nguyễn Văn D1 trồng, ông D, bà P mới trồng hàng dừa nhỏ sau này khi ông đã khởi kiện. Ông không đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của ông Dương Văn D, bà Nguyễn Thị P, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn thống nhất trình bày:

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm số: 191/20 24/DS-ST ngày 07/11/2024 của Toà án nhân dân huyện U Minh với các lý do sau: Phần đất của các bị đơn có cạnh trái nhìn từ mặt tiền kinh Lòng Ống tiếp giáp với ông Lư Văn Đ1, cạnh phải nhìn từ mặt tiền kinh Lòng Ống giáp ông Nguyễn Văn N trước đây vào năm 2016 đã được Toà án nhân dân huyện U Minh và Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử, đã có đo đạc, cặm trụ đá cụ thể phần tiếp giáp ranh đất giữa hai bên, và đã có sơ đồ đo đạc cung cấp cho Toà án tại phiên toà hôm nay. Phần đất tranh chấp bị đơn đã sử dụng từ năm 2017 cho đến nay và trồng cây ăn quả trên đất. Nên việc ông Lư Văn Đ1 khởi kiện là không có căn cứ. Mặc khác, phần đất tranh chấp vợ chồng ông đã tặng cho con ruột là Dương Cẩm H đã lâu và đã chuyển tên vào ngày 08/12/2022, Sau đó Dương Cẩm H đã thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do H đứng tên vay tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần S với số tiền 1,2 tỷ đồng. Hiện nay ông, bà không còn quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp. Do đó, yêu cầu Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự tuyên huỷ bản án sơ thẩm. Bởi lẽ, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm các đương sự không cung cấp đầy đủ chứng cứ. Từ đó, Toà án cấp sơ thẩm không đưa người tham gia tố tụng đầy đủ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, không thể khắc phục tại phiên toà phúc thẩm nên cần huỷ án sơ thẩm để xét xử lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng, của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:

  1. [1] Đơn kháng cáo của ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị P trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Tại phiên toà ông Lư Minh Đ giữ nguyên yêu cầu đơn khởi kiện, không có kháng cáo bản án sơ thẩm. Đối với các căn cứ kháng cáo bị đơn trình bày tại phiên toà ông không đồng ý, bởi lẽ các bị đơn cặm trụ khi giải quyết tranh chấp đất với ông Nguyễn Văn N vào năm 2016 ông không hay biết, không có ký giáp ranh do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông đã thế chấp vay tiền Ngân hàng nên không biết kích thước cụ thể và không biết việc cặm trụ đá đó để làm gì. Do đó, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  3. [3] Xét thấy, tại phiên toà các bị đơn Dương Văn D, Nguyễn Thị P, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn thống nhất giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm. Lý do kháng cáo, vào năm 2016, Toà án nhân dân huyện U Minh; Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau có giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn N và vợ chồng ông, ông N cũng là hộ giáp ranh, khi giải quyết tranh chấp có đo đạc, cặm ranh với ông N và ông Lư Minh Đ. Phần đất tranh chấp đã sử dụng ổn định hơn 25 năm và có trồng cây trên phần đất tranh chấp. Mặc khác, phần đất tranh chấp vợ chồng ông đã tặng cho con ruột là Dương Cẩm H từ lâu và đã chuyển tên vào ngày 08/12/2022, bà H đã thế chấp vay tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần S với số tiền 1,2 tỷ đồng, hiện nay ông, bà không còn quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp.

Qua xem xét các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, lời trình bày của bị đơn tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy: Phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn Lư Minh Đ với bị đơn Dương Văn D và Nguyễn Thị P có diện tích đo đạc thực tế là 705,2m². Tại phiên toà, ông D, bà P cung cấp chứng cứ là đã tặng cho quyền sử dụng đất cho con ruột là Dương Cẩm H đã lâu và đã chuyển tên cho Dương Cẩm H vào ngày 08/12/2022 (thay đổi tại trang 4), Dương Cẩm H đã thế chấp vay tiền tại Ngân hàng với số tiền là 1,2 tỷ đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, tại cấp sơ thẩm các đương sự không cung cấp chứng cứ, không trình bày đầy đủ nên bản án sơ thẩm không đưa con của ông Dương Văn D là Dương Cẩm H và Ngân hàng thương mại cổ phần S nhận thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào tham gia tố tụng, là vi phạm tố tụng. Tại phiên toà phúc thẩm không thể bổ sung được. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên toà là có căn cứ pháp luật, nên chấp nhận. Do đó, Huỷ bản án sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án về Toà án nhân dân huyện U Minh xét xử lại theo quy định của pháp luật. Do huỷ án sơ thẩm nên không xem xét nội dung kháng cáo của ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị P.

  1. Án phí phúc thẩm ông D, bà P không phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số: 191/2024/DS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
  2. Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định tại chổ, án phí dân sự sơ thẩm được xử lý khi toà án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết lại vụ án.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị P không phải chịu, đã qua ông D, bà P đã dự nộp 600.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006862 ngày 28/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh được nhận lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện U Minh;
  • - Chi cục THADS huyện U Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT, (TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn A Đam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/DS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 85/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lư Minh Đời yêu cầu ông Dương Văn Diễn trả lại phần đất lấn chiếm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger