Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/HS-PT

Ngày: 25/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

Các thẩm phán: Bà Thái Thị Thanh Bình

Ông Nguyễn Đình Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 393/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn T và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị P, Đào Anh T1 và Đào Văn D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Các bị cáo kháng cáo:

  1. Trần Văn T, tên gọi khác: không; sinh năm 2000, tại tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn T2, sinh năm 1964 và bà Trần Thị S, sinh năm 1966. Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ 05. Bị cáo chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 04/11/2020, bị Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Thái Bình xử phạt 1.500.000đồng về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định số 6329 ngày 04/11/2020 của UBND huyện T. Bị cáo đã nộp phạt ngày 16/11/2020.

    Tạm giữ từ ngày 23/3/2023 đến ngày 29/3/2023 được huỷ bỏ hiện pháp tạm giữ, bị cáo tại ngoại.

  2. Nguyễn Thanh H, tên gọi khác: không; sinh năm 1980, tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1945 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1948. Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ 3. Bị cáo có vợ tên Trương Thị Bích V, sinh năm 1982 và có 03 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2020.

    Tiền án: Ngày 06/9/2020, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành xử phạt 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, theo Bản án số 162/2020/HS-ST.

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2023 đến ngày 26/3/2023 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo tại ngoại.

  3. Nguyễn Thị P, tên gọi khác: không; sinh năm 1987, tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Nội trợ. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1945 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1948. Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ 7. Bị cáo có chồng tên Võ Văn H2, sinh năm 1985 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo tại ngoại.

  4. Đoàn Anh T3, tên gọi khác: không; sinh năm 1987, tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Tổ H, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 10/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đoàn Giang C (đã chết) và bà Lê Thị Bích L1 (đã chết). Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 5. Bị cáo chưa có vợ con.

    Tiền án: Ngày 12/8/2022, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bản án số 126/2022/HS-ST.

    Tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • + Ngày 20/4/2005, bị Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 30 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Bản án số 98/2005/HSST.
    • + Ngày 15/6/2007, bị Ủy ban nhân dân huyện L áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Đ theo Quyết định số 1882/QĐ-UBND.VX.
    • + Ngày 29/02/2011, bị Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 31/2011/HSST.
    • + Ngày 05/7/2016, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 45/2016/QĐ-TA.
    • + Ngày 07/7/2017, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 57/2017/HSST.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2023 đến ngày 29/3/2023 được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện bị cáo tại ngoại.

  5. Đào Văn D, tên gọi khác: không; sinh năm 1983, tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đào Văn H3, sinh năm 1952 và bà Ngô Thị T4, sinh năm 1954. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 3. Bị cáo có vợ tên Đinh Thị Á, sinh năm 1993 và có 01 con sinh năm 2020.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • + Ngày 29/10/2001, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 64/HSST.
    • + Ngày 23/7/2004, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 52/HSST.

    Bị cáo tại ngoại.

* Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo H: Luật sư Vũ Thị Kim T5 – Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Vũ Thị L, Nguyễn Thanh H1, Võ Văn H2, Hoàng Văn N, Bùi Văn D1, Mai Đức N1 và Mai Văn Mnhưng do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 ngày 22/3/2023, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an huyện L phối hợp Công an xã P bắt quả tang tại nhà Nguyễn Thanh H1 và Vũ Thị L tại ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai đang có hành vi gá bạc và đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu và đánh bài phỏm ăn thua bằng tiền, cụ thể như sau:

Sòng bạc thứ 01: Tại phòng khách gồm Trần Văn T, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị P, Võ Văn H2, Đào Văn D, Đoàn Anh T3, Bùi Văn D1, Hoàng Văn N và Mai Đức N1 đang đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu. T6 trên chiếu bạc số tiền 13.950.000 đồng, 01 cái đĩa sứ, 01 nắp nhựa, 03 viên xí ngầu, 06 lá bài tây gồm các lá 1, 2, 3, 4, 5, 6 cơ. Thu giữ trên người những người đánh bạc tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 11.450.000 đồng cụ thể: Trần Văn T số tiền 7.900.000 đồng; Bùi Văn D1 số tiền 2.000.000 đồng; Đào Văn D số tiền 1.500.000 đồng; Mai Đức N1 số tiền 50.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ đồ vật khác của những người đánh bạc cụ thể: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu gold, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150 màu xanh đen biển số 17B8 – 303.51 và số tiền 20.000.000 đồng của Trần Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng và 01 điện thoại Nokia 150 màu đen của Đào Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh và 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh của Đoàn Anh T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 60N5-5163 của Bùi Văn D1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A92 màu đen và 01 xe mô tô hiệu Honda SH màu trắng biển số 60G1 – 394.74 của Võ Văn H2; 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu biển số 60K5 – 1939 của Hoàng Văn N.

Sòng bạc thứ 02: Tại phòng bếp gồm có Nguyễn Thanh H1, Lã Quang H4, Trương Thị Bích V và Nguyễn Hữu B đang đánh bạc bằng hình thức bài phỏm. Thu giữ 02 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng và số tiền 2.382.000đồng sử dụng vào mục đích tham gia đánh bạc. Ngoài ra, còn thu giữ của những người đánh bạc gồm: 01 điện thoại di động hiệu N2 trắng đen của Lã Quang H4; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh của Trương Thị Bích V; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu bạc và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 60C1-309.00 của Nguyễn Hữu B.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 20 giờ ngày 22/3/2023, Nguyễn Thị P đến nhà Nguyễn Thanh H1 và Vũ Thị L (bố và mẹ ruột của P) để tham gia đánh bạc. Khi đến nơi, P sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung A92 mượn của Võ Văn H2 (chồng của P) nhắn tin rủ Trần Văn T đến căn nhà bị cáo H2 và bị cáo L để đánh bạc lắc tài xỉu, T đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 17B8-303.51 mang theo bộ dụng cụ lắc tài xỉu đến. Khi đến nơi, T là người trực tiếp lắc tài xỉu và trực tiếp chung, chi số tiền thắng, thua cho những người đánh bạc gồm: Võ Văn H2, Đào Văn D, Hoàng Văn N, Mai Đức N1, Đoàn Anh T3, Bùi Văn D1 và Nguyễn Thị P. Tới quy định hình thức chơi cụ thể như sau: 06 lá bài tây gồm lá 1, 2, 3, 4, 5, 6 cơ để dưới sàn nhà và quy định bên 4,5,6 là “Tài”, bên 1,2,3 là “Xỉu”; mỗi bên đặt cược số tiền lớn nhất là 1.500.000đồng. Khi lắc 03 hột xí ngầu ra kết quả cộng lại tổng 03 hột xí ngầu từ 10 trở xuống tức là “Xỉu” từ 11 trở lên tức là “Tài” nếu cả 03 mặt hột xí ngầu trùng nhau tức là “Bão”, khi “Bão” thì nhà cái và chủ nhà là Vũ Thị L chia đôi số tiền thắng của những người đặt cược đã đặt.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút, thì có Nguyễn Thanh H đến hùn tiền với T rồi cả 02 cùng làm nhà cái. Những người tham gia đánh bạc lúc này gồm Nguyễn Thị P, Võ Văn H2, Đào Văn D, Đoàn Anh T3, Bùi Văn D1, Hoàng Văn N, Mai Đức N1 và Mai Văn M, số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc như sau: P mang theo sử dụng số tiền 1.200.000 đồng để tham gia đánh bạc và thắng số tiền 1.000.000 đồng; H2 sử dụng số tiền 650.000 đồng để tham gia đánh bạc và thua hết; D sử dụng số tiền 1.300.000 đồng để tham gia đánh bạc và thắng số tiền 200.000 đồng; Đoàn Anh T3 sử dụng số tiền 350.000 đồng để tham gia đánh bạc và thua số tiền 250.000 đồng; Bùi Văn D1 sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc thì huề tiền; Hoàng Văn N sử dụng số tiền 1.200.000 đồng để tham gia đánh bạc bị thua hết; Mai Đức N1 sử dụng số tiền 300.000 đồng để tham gia đánh bạc và thua số tiền 250.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền sử dụng vào đánh bạc tại sòng bạc trên 25.400.000 đồng (trong đó số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 13.950.000 đồng và thu trên người của những người đánh bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.450.000 đồng).

Ngoài ra, cùng thời điểm trên tại phòng bếp bắt quả tang gồm: Nguyễn Thanh H1, Lã Quang H4, Trương Thị Bích V và Nguyễn Hữu B đang đánh bạc dưới hình thức bài phỏm cụ thể: Nguyễn Thanh H1 mang theo sử dụng số tiền 150.000 đồng để tham gia đánh bạc và thắng số tiền 20.000 đồng; Lã Quang H4 sử dụng số tiền 1.982.000 đồng để tham gia đánh bạc và thua số tiền 100.000 đồng; Trương Thị Bích V sử dụng số tiền 160.000 đồng để tham gia đánh bạc và thắng số tiền 200.000 đồng; Nguyễn Hữu B sử dụng số tiền 110.000đồng và thắng số tiền 50.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của sòng bạc là 2.382.000 đồng.

Đối với bị cáo Vũ Thị L, trong ngày 22/03/2023, L thu được 500.000 đồng tiền xâu từ những người đánh bạc. Ngoài ra, các ngày khác L không thu tiền xâu. Riêng đối với bị cáo Nguyễn Thanh H1 là chủ nhà mặc dù biết các bị cáo sử dụng địa điểm nhà của H1 quản lý, sử dụng để tham gia đánh bạc và bị cáo H1 biết rõ việc bị cáo L thu tiền xâu của những người đánh bạc nhưng H1 không ngăn cản để cho những người đánh bạc tham gia đánh bạc.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo Trần Văn T, Võ Văn H2, Bùi Văn D1 và Hoàng Văn N đều khai xác định có Mai Văn M tham gia đánh bạc tại sòng bạc tài trên cụ thể: Khi D1 đặt cược bên “T7” số tiền 500.000 đồng, thì M bắt cửa “xỉu”, kết quả ra “Tài” nên M thua phải trả cho D1 số tiền 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, M không thừa nhận hành vi phạm tội.

Vật chứng vụ án:

  • 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm 01 đĩa bằng sứ, 01 nắp nhựa, 03 viên xí ngầu, 06 lá bài tây, 02 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu gold và một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150 màu xanh đen biển số 17B8 – 303.51 của Trần Văn T.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng và điện thoại Nokia 150 màu đen của Đào Văn D.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh và một điện thoại Nokia 105 màu xanh của Đoàn Anh T3.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 60N5-5163 của Bùi Văn D1.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A92 màu đen và 01 xe mô tô hiệu Honda SH màu trắng biển số 60G1 – 394.74 của Võ Văn H2.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu biển số 60K5 – 1939 của Hoàng Văn N.
  • 01 điện thoại di động hiệu N2 trắng đen của Lã Quang H4.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh của Trương Thị Bích V.
  • 01 điện thoại di động hiệu S1, màu bạc và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 60C1-309.00 của Nguyễn Hữu B.

Tại Bản Cáo trạng số: 25/CT-VKSLT ngày 12/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố các bị cáo Vũ Thị L và Nguyễn Thanh H1 về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo Nguyễn Thị P, Trần Văn T, Nguyễn Thanh H, Võ Văn H2, Hoàng Văn N, Đoàn Anh T3, Bùi Văn D1, Mai Đức N1, Đào Văn D và Mai Văn M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành quyết định:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Đánh bạc”.
  • Xử phạt: Nguyễn Thị P 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Xử phạt: Trần Văn T 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại thi hành án. Nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữa từ ngày 23/3/2023 đến ngày 29/3/2023.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Tuyên bố bị cáo Đào Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
  • Xử phạt: Đào Văn D 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại thi hành án.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 ; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H và Đoàn Anh T3 phạm tội “Đánh bạc”.
  • Xử phạt: Nguyễn Thanh H 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo H được tính kể từ bị cáo vào trại thi hành án, nhưng trừ cho bị cáo H thời giam tạm giữ trước từ ngày 23/3/2023 đến ngày 26/3/2023.
  • Xử phạt: Đoàn Anh T3 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo T3 được tính kể từ bị cáo vào trại thi hành án, nhưng trừ cho bị cáo T3 thời giam tạm giữ trước từ ngày 23/3/2023 đến ngày 29/3/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, nghĩa vụ thi hành án, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 12/4/2024, các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thanh H và Đoàn Văn D2 có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc phạt tiền.

Ngày 23/4/2024, bị cáo Đoàn Anh T3 có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc phạt tiền.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa nêu quan điểm vụ án:

  • - Đơn kháng cáo của các bị cáo phù hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn nên xem xét giải quyết.
  • Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật mà bản án sơ thẩm đã nêu là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
  • - Về nội dung kháng cáo:

Bị cáo Đoàn Anh T3 có đơn xin rút kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo T3.

Bị cáo Trần Văn T cung cấp giấy xác nhận hoàn cảnh khó khăn, ông nội là Trần Văn Đ có tham gia kháng chiến chống Mỹ. Tuy nhiên, năm 2020 bị cáo đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, trong vụ án này bị cáo là người chuẩn bị dụng cụ lắc tài xỉu để đánh bạc và trực tiếp làm cái nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Thanh H cung cấp giấy xác nhận của bệnh viện đang điều trị ung thư. Tuy nhiên bị cáo đã có tiền án về hành vi “Đánh bạc” nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.

Bị cáo Nguyễn Thị P cung cấp giấy khai sinh và giấy chứng sinh bị cáo sinh con ngày 12/12/2024 thể hiện trong thời gian xét xử bị cáo có thai. Do đó chấp nhận kháng cáo của bị cáo, phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục và thu ngân sách nhà nước.

Bị cáo Đào Văn D cung cấp giấy xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Do đó chấp nhận kháng cáo của bị cáo, phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục và thu ngân sách nhà nước.

* Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo H: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật mà bản án sơ thẩm đã nêu là có căn cứ, đúng người và đúng tội. Tuy nhiên, bị cáo H hiện đang bị bệnh ung thư và đang điều trị, cứ 03 tháng phải vô thuốc 01 lần và cách ly 20 ngày. Vợ bị cáo không đi làm, các con bị cáo còn nhỏ, bố mẹ già yếu cần bị cáo chăm sóc, bị cáo bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển sang hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ cũng đủ giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thanh H, Đào Văn D và Đoàn Anh T3 làm trong thời hạn phù hợp quy định tại các Điều 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị cáo P.

Tại phiên toà, bị cáo Đoàn Anh T3 tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo T3 và tiếp tục xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thanh H, Đào Văn D.

[2] Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thanh H và Đào Văn D khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và bản án sơ thẩm, thể hiện:

Khoảng 20 giờ ngày 22/3/2023, bị cáo Nguyễn Thị P đến nhà Nguyễn Thanh H1 và Vũ Thị L (bố mẹ ruột của P) để tham gia đánh bạc. Khi đến nơi, P sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung A92 mượn của Võ Văn H2 (chồng của P) nhắn tin rủ Trần Văn T đến nhà bị cáo H2 và bị cáo L để đánh bạc lắc tài xỉu, T đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 17B8-303.51 mang theo bộ dụng cụ lắc tài xỉu đến. Khi đến nơi, tại phòng khách nhà bị cáo Nguyễn Thanh H1 và Vũ Thị L, bị cáo T là người trực tiếp lắc tài xỉu để chung chi số tiền thắng thua cho những người đánh bạc gồm: Võ Văn H2, Đào Văn D, Hoàng Văn N, Mai Đức N1, Đoàn Anh T3, Bùi Văn D1 và Nguyễn Thị P. Tới quy định hình thức chơi cụ thể như sau: 06 lá bài tây gồm lá 1, 2, 3, 4, 5, 6 cơ để dưới sàn nhà và quy định bên 4,5,6 là “Tài”, bên 1,2,3 là “Xỉu”; mỗi bên đặt cược số tiền lớn nhất là 1.500.000đồng. Khi lắc 03 hột xí ngầu ra kết quả cộng lại tổng 03 hột xí ngầu từ 10 trở xuống tức là “Xỉu” từ 11 trở lên tức là “Tài” nếu cả 03 mặt hột xí ngầu trùng nhau tức là “Bão”, thì nhà cái và chủ nhà là Vũ Thị L chia đôi số tiền của những người đặt cược đã đặt. Đến khoảng 22 giờ 30 phút, thì có Nguyễn Thanh H đến hùn tiền với T rồi cả 02 cùng làm nhà cái. Những người tham gia đánh bạc lúc này gồm Nguyễn Thị P, Võ Văn H2, Đào Văn D, Đoàn Anh T3, Bùi Văn D1, Hoàng Văn N, Mai Đức N1 và Mai Văn M số tiền các bị cáo mang theo đánh bạc như sau: P mang theo sử dụng số tiền 1.200.000 đồng để tham gia đánh bạc và thắng số tiền 1.000.000 đồng; H2 sử dụng số tiền 650.000 đồng để tham gia đánh bạc và thua hết; D sử dụng số tiền 1.300.000 đồng để tham gia đánh bạc và thắng số tiền 200.000 đồng; Đoàn Anh T3 sử dụng số tiền 350.000 đồng để tham gia đánh bạc và thua số tiền 250.000 đồng; Bùi Văn D1 sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc không thắng, không thua; Hoàng Văn N sử dụng số tiền 1.200.000 đồng để tham gia đánh bạc bị thua hết; Mai Đức N1 sử dụng số tiền 300.000 đồng để tham gia đánh bạc và thua số tiền 250.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền sử dụng vào đánh bạc tại sòng bạc trên 25.400.000 đồng (trong đó số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 13.950.000 đồng và thu trên người của những người đánh bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.450.000 đồng).

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thanh H, Đào Văn D đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P1 08 (tám) tháng tù; Trần Văn T 11 (mười một) tháng tù; Đào Văn D 08 (tám) tháng tù; Nguyễn Thanh H 10 (mười) tháng tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo:

3.1 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị P1, Trần Văn T, Đào Văn D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thanh H đã có tiền án chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội nên đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

3.2 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

  • - Tại cấp sơ thẩm: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thị P phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Bị cáo Đào Văn D gãy xương mắt cá chân nên hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Tại cấp phúc thẩm:
  • Bị cáo Trần Văn T cung cấp giấy xác nhận hoàn cảnh khó khăn, ông nội là Trần Văn Đ có tham gia kháng chiến chống Mỹ. Tuy nhiên, năm 2020 bị cáo đã bị Chủ tịch UBND huyện T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, trong vụ án này bị cáo là người chuẩn bị dụng cụ lắc tài xỉu để đánh bạc và trực tiếp làm cái. Bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
  • Bị cáo Nguyễn Thanh H cung cấp giấy xác nhận của bệnh viện đang điều trị ung thư, đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tuy nhiên bị cáo đã có tiền án về hành vi “Đánh bạc” nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.
  • Bị cáo Nguyễn Thị P cung cấp giấy khai sinh và giấy chứng sinh bị cáo sinh con ngày 12/12/2024 thể hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo mang thai. Vì vậy, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội là phụ nữa có thai” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó chấp nhận kháng cáo của bị cáo, phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục và thu ngân sách nhà nước.
  • Bị cáo Đào Văn D cung cấp giấy xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình; số tiền đánh bạc không lớn. Do đó chấp nhận kháng cáo của bị cáo, phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục và thu ngân sách nhà nước.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Ý kiến của Luật sư bào chữ cho bị cáo H không phù hợp với Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thanh H nên các bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.

Do chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị P, Đào Văn D nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 342; điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Đoàn Anh T3. Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai quyết định đối với bị cáo Đoàn Anh T3 có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 25/02/2025.
  • - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thanh H.
  • Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị P, Đào Văn D.
  • Sửa một phần về hình phạt do khách quan đối với bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

1. Về tội danh và hình phạt:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt: Trần Văn T 11 (mười một) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữa từ ngày 23/3/2023 đến ngày 29/3/2023.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1,2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 ; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt: Nguyễn Thanh H 10 (mười) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù của được tính kể từ bị cáo vào trại thi hành án nhưng trừ cho thời gian tạm giữ trước từ ngày 23/3/2023 đến ngày 26/3/2023.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i, n khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt: Nguyễn Thị P 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt: Đào Văn D 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

2. Về án phí:

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị P, Đào Văn D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thanh H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai; VKS sơ thẩm;
  • - TAND cấp sơ thẩm;
  • - Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;
  • - Phòng PV06-Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo, đương sự trong vụ án;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 85/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T + đp phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger