TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2025/DS-PT Ngày: 20 - 02 - 2025 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoàng Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 771/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2025 “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 61/2025/QĐPT-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Đ, sinh năm: 1935; Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ý, sinh năm 2001; Địa chỉ liên hệ: Tầng C, F Đ, phường A, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền số 01042 ngày 14/02/2025 tại Văn phòng C5) - có mặt
Người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Kim H, Đoàn luật sư tỉnh T (trợ giúp pháp lý cho bà Đ);
- Bị đơn: Ông Dương Văn S; sinh năm: 1957 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1958; địa chỉ: ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh - (Bà T có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Thế T1, Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh – Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn N – Chủ tịch; có đơn xin vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị R, sinh năm: 1951; địa chỉ: ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
- - Ông Đỗ Văn P, sinh năm 1971; bà Võ Thị T2, sinh năm 1971; cùng địa chỉ: Tổ C, ấp Đ, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Người kháng cáo: Do có kháng cáo của nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 7 năm 2023 nguyên đơn bà Võ Thị Đ; người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Thạch Huỳnh N1 thống nhất trình bày:
Bà Võ Thị Đỗ C 05 người con gồm: Nguyễn Thị R, sinh năm 1951; Nguyễn Thị R1, sinh năm 1953 (chết năm 2010); Nguyễn Thị R2, sinh năm 1956; Nguyễn Thị T, sinh năm 1958 và Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960.
Năm 1980, bà Đỗ N2 chuyển nhượng phần đất có diện tích 6.655,1 m² tọa lạc ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh từ vợ chồng bà Đỗ Thị A và ông Phạm Văn T3, giá chuyển nhượng là 01 cây vàng. Bà Đỗ K2 biết chữ nên đã nhờ bà Nguyễn Thị R là con gái bà Đ đứng tên trên Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay, giấy này do bà R cất giữ. Các chủ đất giáp ranh và những người hàng xóm lớn tuổi xung quanh đều biết việc chuyển nhượng này.
Sau khi nhận đất từ vợ chồng ông T3, bà A thì bà Đỗ C1 các con cùng canh tác sử dụng trên phần đất nhận chuyển nhượng này. Năm 1983, bà Nguyễn Thị T kết hôn với ông Dương Văn S. Sau khi kết hôn, bà T về sống bên gia đình chồng. Đến năm 1984, bà T và ông S trở về xin bà Đ cho xây nhà ở và canh tác trên phần đất đã nhận chuyển nhượng của ông T3 và bà A và được bà Đ đồng ý. Ban đầu, vợ chồng bà T chỉ cất nhà tạm (diện tích nhỏ) để ở. Sau đó vợ chồng bà T xây nhà lớn và trồng cây ăn trái trên đất, bà Đỗ B sự việc nhưng không ngăn cản vì bà Đỗ S1 một mình, thường xuyên đau ốm, đi lại khó khăn.
Trong thời gian sử dụng đất, ông S đã đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số A606891 ngày 20/01/1993 (số vào sổ cấp GCN: 00713/QSDĐ/H2) thửa 714, 716, 717, 718, 703, 704, tờ bản đồ số 9 với tổng diện tích 11.880m². Phần đất mà ông S được cấp GCNQSDĐ bao gồm luôn phần đất mà bà Đ đã nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông T3 bà A là thửa 714, 716, 717, 718, tờ bản đồ số 9 (nay là thửa 342, 343 tờ bản đồ số 48) diện tích 6.030 m² (đo đạc thực tế là 6.655,1m²). Bà Đỗ hoàn T4 không biết việc ông S được cấp GCNQSDĐ luôn phần đất của bà Đ cho đến năm 2015, bà R khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của gia đình thì bà Đỗ M biết phần đất nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông T3, bà A là thửa số 714, 716, 717, 718 với diện tích 6.030 m² (đo đạc thực tế là 6.655,1m²) đã được Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện G cấp GCNQSDĐ đứng tên ông S.
Ông S cho rằng các thửa đất số 714, 716, 717, 718, tờ bản đồ số 9 là phần đất mà ông S nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T3, bà A vào năm 1989 có giấy viết tay đề tên là “Giấy nhượng đứt đất đồng” nhưng trong đơn đăng ký quyền sử dụng ruộng đất ngày 01/4/1992, ông S lại không kê khai nguồn gốc đất là do nhận chuyển nhượng mà lại kê khai nguồn gốc là do thừa kế của cha mẹ, trong khi tại thời điểm đó, mẹ ruột của ông S là cụ Lê Thị T5 vẫn còn sống, mẹ vợ của ông S là cụ Đ vẫn còn khỏe mạnh nên các thửa đất 714, 716, 717, 718 không phải có nguồn gốc từ thừa kế như ông S đã kê khai. Do đó ông S đã kê khai gian dối thông tin để được cấp GCNQSDĐ chứ thực ra thửa đất 714, 716, 717, 718 tờ bản đồ số 9 (nay là thửa 342, 343 tờ bản đồ 48) là của bà Đỗ N2 chuyển nhượng từ vợ chồng ông T3, bà A.
Trong quá trình cấp GCNQSDĐ cho ông S, các cơ quan có thẩm quyền đã không kiểm tra, xác minh những thông tin về nguồn gốc của những thửa đất mà ông S đăng ký cấp GCNQSDĐ trước khi xét duyệt, công nhận tính hợp pháp của đơn đăng ký quyền sử dụng đất của ông S là trái quy định pháp luật, dẫn đến hệ quả là cấp GCNQSDĐ tại các thửa 714, 716, 717, 718 không đúng đối tượng sử dụng đất.
Năm 2018, bà Đỗ khởi K bà T, ông S đến Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh yêu cầu bà T, ông S trả lại quyền sử dụng đất thửa đất số 714, 716, 717, 718 tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Bà Đ đồng ý nhận giá trị tài sản, giao cho ông S, bà T được quyền sử dụng đất tranh chấp, đồng thời đồng ý thanh toán tiền công sức cải tạo và giữ gìn đất của ông S, bà T.
Tại Bản án sơ thẩm số 88/2019/DS-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ, buộc bà T và ông S có nghĩa vụ thanh toán giá trị đất cho bà Đ với số tiền là 4.531.100.000 đồng; bà T và ông S được quyền sử dụng 6.655,1m² thuộc thửa 342/5.147m², 343/1.508,1m² tờ bản đồ 48 (BĐĐC VN-2000) tương ứng với các thửa 714, 716, 717, 718 theo GCNQSDĐ số 00713/QSDĐ/H2 do UBND huyện G cấp ngày 20/1/1993.
Tại Bản án phúc thẩm số 204/2020/DS-PT ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ, buộc bà T và ông S có nghĩa vụ thanh toán giá trị đất cho bà Đ với số tiền là 4.531.100.000 đồng; bà T và ông S được quyền sử dụng 6.655,1m² thuộc thửa 342/5.147m², 343/1.508,1m² tờ bản đồ 48 (BĐĐC VN-2000) tương ứng với các thửa 714, 716, 717, 718 theo GCNQSDĐ số 00713/QSDĐ/H2 do UBND huyện G cấp ngày 20/1/1993.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 219/2021/DS-GĐT ngày 01/11/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử hủy cả hai bản án dân sự phúc thẩm số 204/2020/DS-PT ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 88/2019/DS-ST ngày 22/11/2019; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ngày 31/7/2023, bà Đỗ khởi K đến Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy một phần GCNQSDĐ số 00713/QSDĐ do UBND huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Vương Văn S2 ngày 20/01/1993 đối với phần đất có diện tích 6.030 m² (đo thực tế là 6.655,1m²) gồm các thửa 714, 716, 717, 718 tờ bản đồ số 9, tương ứng với các thửa mới là 342, 343, tờ bản đồ số 48 tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Yêu cầu ông Vương Văn S2 và bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm giao trả cho bà Đỗ phần đất có diện tích 6.030m² (đo thực tế là 6.655,1m²) gồm các thửa 714, 716, 717, 718 tờ bản đồ số 9, tương ứng với các thửa mới là 342, 343 tờ bản đồ số 48, đất tranh chấp tọa lạc ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Nguyên đơn đề nghị không yêu cầu đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ lại yêu cầu lấy số liệu cũ để xét xử.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T, ông Dương Văn S trình bày : Bà là con gái của bà Võ Thị Đỗ . Vào năm 1984, bà và ông Dương Văn S kết hôn sau đó về quê chồng để sinh sống, đến năm 1989 vợ chồng bà nhận chuyển nhượng của ông T3 bà A 01 phần đất có diện tích hơn 6.000m² việc giao dịch do bà R (là chị gái ruột) đứng tên thực hiện với ông T3, giao dịch chuyển nhượng đất xác lập bằng giấy tay do ông T3 nhờ ông Lê Văn G viết giúp, giá chuyển nhượng là 10 chỉ vàng 24K trả theo từng đợt. Số vàng này là do vợ chồng bà dành dụm mà có đưa cho bà ren trả trực tiếp cho ông T3, bà A trong vòng 01 năm. Khi trả vàng xong thì lập giấy biên nhận.
Sau khi nhận chuyển nhượng đất xong, vợ chồng bà trở về đây xây nhà ở cho đến nay. Vào năm 2019, vợ chồng bà thuê thợ xây dựng hàng rào lưới kẻm B40 thì bà Đ1 yêu cầu chính quyền địa phương đến lập biên bản sự việc, phần đất tranh chấp này không liên quan đến ông S3 (là cha của bà) bởi vì ông S3 và bà Đ1 đã ly hôn trước năm 1975.
Nay bà Đỗ khởi K yêu cầu hủy một phần GCNQSDĐ số 00713/QSDĐ do UBND huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20/01/1993 do ông Dương Văn S đứng tên và yêu cầu vợ chồng bà phải trả lại cho bà Đỗ P1 đất có diện tích 6.030m² (thực tế 6.655,1m²) vợ chồng bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn yêu cầu không tiến hành đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ lại tài sản tranh chấp.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị R: Bà là con gái ruột của ông S3, bà Đ và là chị gái của bà T. Ông S3, bà Đ đã ly hôn trước năm 1975 nên ông S3 không liên quan đến tài sản đang tranh chấp trong vụ án này.
Bà T, ông S là vợ chồng từ năm 1984, bà xác nhận phần đất đang tranh chấp là do ông S, bà T nhờ bà đứng tên nhận chuyển nhượng giúp, bởi vì bà là người quen biết với ông T3 (người bán đất), việc giao dịch chuyển nhượng đất đều do bà trực tiếp liên hệ với ông T3, giấy sang nhượng đất xác lập ngày 15 tháng 4 năm 1989 là do ông T3 nhờ ông Lê Văn G viết, khi đó chỉ có mặt bà và ông T3 ký tên, Sau khi viết giấy xong ông T3 mang về cho bà A (bà M1) là vợ của ông T3 và cho ông Phạm Văn K1 là cha của ông T3 ký tên, giá chuyển nhượng đất là 10 chỉ vàng 24K và ông T3 cho trả từng đợt trong thời hạn 01 năm. Sau khi nhận chuyển nhượng đất xong bà T, ông S về xây nhà ở trên đất cho đến ngày nay, khoản tiền sang nhượng đất là do bà T, ông S dành dụm mà có gì vậy phần đất tranh chấp này là tài sản của ông S, bà T.
Nay bà Đỗ khởi K yêu cầu hủy một phần GCNQSDĐ số 00713/QSDĐ do UBND huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20/01/1993 do ông Dương Văn S đứng tên và yêu cầu trả lại cho bà Đỗ P1 đất có diện tích 6.030m² (thực tế 6.655,1m²) bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Công văn số:147/UBND-NC ngày 19/01/2024 của UBND huyện G, tỉnh Tây Ninh có nội dung: GCNQSDĐ số 00713/QSDĐ do UBND huyện G cấp cho ông Dương Văn S ngày 20/01/1993, đối với phần đất có diện tích: 6.030m² (đo thực tế là 6.655,1m²), gồm các thửa đất 714, 716,717,718 tờ bản đồ số 9, tương ứng với các thửa đất mới là 342, 343 tờ bản đồ số 48 đất tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Việc UBND huyện G cấp GCNQSDĐ nêu trên cho ông Dương Văn S là đúng theo quy định của pháp luật về đất đai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn P trình bày: Khi bà T, ông S xây hàng rào qua thửa đất của ông một phần diện tích nhưng ông không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết với ông S, bà T và cụ Đỗ đối V diện tích này. Ông P trình bày, đất của ông canh tác giáp với đất cụ Đỗ tranh C2 với bà T, ông S nên ông biết rõ nguồn gốc đất tranh chấp là của ông T3 chuyển nhượng cho cụ Đỗ khoảng năm 1980, sau khi nhận chuyển nhượng đất cụ Đỗ T6 mía, trồng mì, trĩa đậu đến khoảng năm 1989 thì ông S về đây cất chuồng bò và ở luôn cho đến nay, còn lý do vì sao ông S, bà T sinh sống trên đất này ông không biết.
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ Điều 164, 166, 170 của Bộ luật Dân sự; Điều 167, 188 của Luật Đất đai; Điều 147, 148, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, khoản 3 Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Đỗ đối V bà Nguyễn Thị T, ông Dương Văn S (Sữa) về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 6.030m2 (đo đạc thực tế có diện tích 6.655,1m2), thửa đất số 342 và thửa số 343, tờ bản đồ 48, tương ứng các thửa 714, 716, 717,718 tọa lạc ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh được UBND huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 00713 QSDĐ/H2 ngày 20/01/1993 do ông Vương Văn S2 (Dương Văn S) đứng tên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định chi phí tố tụng khác, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 26 tháng 7 năm 2024, ông Thạch Huỳnh N1 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm, do cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng khi nguyên đơn yêu cầu giám định chữ ký của bên bán đất nhưng nhận định không cần thiết, không triệu tập bên bán đất là bà M1 (A) vì bà M1 có ý kiến chỉ bán đất cho bà Đ và bà không ký văn bản bán đất cho bà R.
- Bị đơn trình bày: Ông S và bà T nhờ bà R mua đất của ông T3, bà M1 năm 1989, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
- Người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn trình bày: Bà Đỗ mua đất của vợ chồng ông T3, bà M1 nhưng do không biết chữ nên cho con gái là bà R đứng tên. Bà Đỗ T6 hoa màu, sau chị T là con gái là con gái lấy chồng thì bà cho mượn canh tác. Khi bà làm hàng rào thì xảy ra tranh chấp, địa phương hòa giải, bà T nói mua nhưng người bán là bà M1 còn sống không ký giấy bán nên không có căn cứ khẳng định đất này do bà Thu M2. Đề nghị Tòa án cho giám định giấy mua bán.
- Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn trình bày: Cấp sơ thẩm đã xét xử đúng quy định pháp luật, đề nghị Tòa án không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ tranh chấp và yêu cầu kháng cáo:
Bà Đỗ yêu C3: Hủy một phần GCNQSDĐ số 00713/QSDĐ do UBND huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Vương Văn S2 (Dương Văn S4) ngày 20/01/1993 đối với phần đất có diện tích 6.030m² (đo thực tế là 6.655,1m²) gồm các thửa 714, 716, 717, 718 tờ bản đồ số 9, tương ứng với các thửa mới là 342, 343, tờ bản đồ số 48 tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Yêu cầu ông Vương Văn S2 và bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm giao trả cho bà Đỗ phần đất có diện tích 6.030m² (đo thực tế là 6.655,1m²) gồm các thửa 714, 716, 717, 718 tờ bản đồ số 9, tương ứng với các thửa mới là 342, 343 tờ bản đồ số 48, đất tranh chấp tọa lạc ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Xét thấy, phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông T3, bà M1 có diện tích diện tích 6.030m² (đo đạc thực tế có diện tích 6.655,1m²), thửa đất số 342 và thửa số 343, tờ bản đồ 48, tương ứng các thửa 714, 716, 717, 718 tọa lạc ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Các bên đương sự đều khai nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T3, bà A (M) với giá 10 chỉ vàng 24k nhưng trả dần, đến khi trả đủ làm giấy. Bà Đ cho rằng bà không biết chữ nên cho con gái là bà R đứng ra làm giấy. Ông P2 là người có đất liền kề xác nhận đất của bà Đỗ M3 và có trồng cây nông nghiệp, sau này mới thấy vợ chồng bà T xây nhà ở trên đất. Bà R xác nhận chuyển nhượng vào năm 1989 không phải năm 1980 như nguyên đơn trình bày và bà R cũng xác định là mua dùm bà T, ông S2. Tuy nhiên, bà M1 (A) là vợ của ông T3 là người chuyển nhượng đất hiện còn sống và có ý kiến là vợ chồng bà bán cho bà Đ và trả dần trong 01 năm thì mới viết giấy, bà không ký vào giấy bán đất cho bà R, điều này phù hợp với lời khai của ông G là người viết giấy cũng khẳng định bà M1, ông K1 (cha chồng) không có mặt ký khi ông viết giấy dùm. Trong khi đó, vợ chồng bà T, ông S2 đều khẳng định là mua của vợ chồng ông T3 và nhờ bà R giao dịch. Do đó, giấy nhượng đứt đất đồng là chứng cứ vật chất duy nhất, hiện còn mâu thuẫn vì người bán khẳng định không bán cho bà R và không ký giấy, nhưng giấy này lại có cả chữ ký của ông T3, bà M1, ông K1.
Ngày 10/6/2024 Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày 27/6/2024 và ngày 02/7/2024 Tòa án nhận được đơn đề nghị trưng cầu giám định của người đại diện hợp pháp của bà Đ có nội dung: Đề nghị giám định chữ ký của ông Phạm Văn T3; giám định tuổi mực trong Giấy nhượng đứt đất đồng ngày 15/4/1989, đồng thời cung cấp các chứng cứ có mẫu chữ ký của ông T3 như hợp đồng tín dụng, hồ sơ xin cấp đổi giấy phép lái xe, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận kết hôn (đều là bản chính) để giám định chữ ký, chữ viết họ và tên.
Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận hoãn phiên tòa là đúng tố tụng. Tuy nhiên cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của bà R cho rằng mua dùm vợ chồng bà T là chưa khách quan vì thực tế từ năm 2016 bà R đã mâu thuẫn với mẹ và khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bà Đỗ C4 tài sản chung là quyền sử dụng đất (mẹ, con mua chung đất) thì bà Đ đã có lời khai còn mảnh đất bà mua đứng tên bà R (đất tranh chấp trong vụ án này) nên không thể căn cứ lời khai của bà R để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cho giám định chữ ký của những người chuyển nhượng quyền sử dụng đất để xác định sự thật có việc chuyển nhượng cho bà R hay không?
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn tiếp tục yêu cầu giám định chữ ký của ông T3, bà M1. Xét yêu giám định chữ ký của nguyên đơn là chính đáng và cần thiết vì bà M1 có ý kiến không ký “bán đất” cho bà R. Kết quả giám định là một trong những căn cứ quan trọng để xác định khách quan, toàn diện, giải quyết vụ án triệt để, đúng quy định của pháp luật về đất đai.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Khi giải quyết lại cần đưa bà M1 (bà A) tham gia tố tụng, lấy mẫu chữ ký để giám định. Yêu cầu bà T nộp bản chính để thực hiện thủ tục giám định (tại phiên tòa phúc thẩm bà T khẳng định đang giữ bản gốc giấy nhượng đất).
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do án sơ thẩm hủy nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Đỗ .
- Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Bà Võ Thị Đỗ K2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 20/02/2025.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 85/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 85/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy án
