Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRIỆU SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85 /2024/HS-ST

Ngày: 11 - 12 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Hùng và bà Ngô Thị Minh

Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 32 ngày 21/11/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh V, sinh năm 1990; Tên gọi khác: Không

Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Bác sỹ; trình độ văn hóa: Đại học

Số CCCD: [...]; cấp ngày 12/07/2021; Nơi cấp: Cục C1.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Con ông: Nguyễn Thanh C, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1968; Vợ: Trịnh Thị D, sinh năm 1995; Có 01 con sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo là Đảng viên Đ2, sinh hoạt tại Chi bộ thôn Q, xã H, huyện T, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng 90 ngày kể từ ngày 02/10/2024, theo quyết định số 188 – QĐ/UBKTHU, ngày 02/10/2024 của huyện ủy huyện T.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 13/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

  • + Chị Phạm Thị Q, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
  • + Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1986 (Vắng mặt)

Cùng trú tại: Thôn B, xã Q, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  • + Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện N, Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Lê Thị N, sinh năm 1990 (Vắng mặt)

Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  • + Anh Bùi Văn T, sinh năm 1967 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn S, huyện T, Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Thanh C, sinh năm 1968 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 11/02/2024, Nguyễn Anh V có giấy phép lái xe hạng B2, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu ACENT biển kiểm soát 36A-406.11( xe mua của ông Nguyễn Thanh C nhưng chưa làm thủ tục sang tên xe) đi trên đường T, theo hướng thị trấn S đi xã H. Khi đến địa phận thôn D, xã T, huyện T. Do đi sang làn đường ngược chiều, không chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ, nên mặt trước đầu xe ô tô biển kiểm soát 36A-406.11 do V điều khiển đâm va vào mặt trước đầu xe ô tô nhãn hiệu VIOS biển kiểm soát 36A-937.68 do chị Phạm Thị Q điều khiển, làm cho xe của chị Q bị đẩy lùi lại phía sau, mặt sau đuôi xe của chị Q tiếp tục đâm va vào mặt trước đầu xe ô tô nhãn hiệu KIA SONET biển kiểm soát 36A-829.52 do anh Nguyễn Văn Đ điều khiển đi phía sau cùng chiều với xe chị Q. Khi xe của chị Q va chạm với xe anh Đ dừng lại thì xe ô tô nhãn hiệu 110 biển kiểm soát 30A-765.70 do anh Bùi Văn T điều khiển đi phía sau cùng chiều, không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước nên mặt trước đầu xe do anh T điều khiển đã đâm vào mặt sau bên phải đuôi xe của anh Nguyễn Văn Đ. Hậu quả, 04 xe ô tô trên đều bị hư hỏng, không có thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của những người ngồi trên xe ô tô. Những người điều khiển xe ô tô nói trên đều có giấy phép lái xe hợp lệ.

Ngày 11/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn Tỉnh lộ 506, thuộc địa phân thôn D, xã T, huyện T. Mặt đường rải nhựa bằng phẳng rộng 11m, có vạch sơn phân chia làm đường rõ ràng, vạch sơn giữa mặt đường là nét đứt, hai bên là khu dân cư. Tại khu vực nơi xảy ra tai nạn có hệ thống biển báo đường bộ. Lấy cột km số H6/6 trên đường phía Nam làm mốc (ký hiệu A). Lấy mép đường phía Nam đường tỉnh lộ 506 làm chuẩn (ký hiệu B). Tiến hành khám nghiệm hiện trường ghi nhận dấu vết sau:

  • Số 1: Vết tỳ trượt lốp liên tục dài 10m trên mặt đường, đầu dấu vết cách A là 35,5m, các B là 8,05m, cách đầu vết số 02 là 2,9m, vết có chiều T - Đ, cuối vết kết thúc tại bánh xe phía sau bên phải xe ô tô BKS: 36A-406.11.
  • Số 02: Vết tỳ trượt lốp liên tục trên mặt đường có chiều dài 1,65m, rộng 0,1m trên mặt đường, vết có chiều T1 – Đông, đầu vết cách B là 8,5m, cách đầu vết số 03 là 1,5m, cuối vết cách là là 7.1m.
  • Số 3: Vết tỳ trượt lốp liên tục trên mặt đường có chiều dài 1,5m, rộng 0,1m trên mặt đường, vết có chiều T1 – Đông, đầu vết cách B là 7m, cuối vết cách B là 7,1m, cách trục trước bên phải xe ô tô BKS: 36A-406.11 là 2,9m.
  • Số 4: Xe ô tô BKS 36A - 406.11 phần trước thân xe nằm trên mặt đường nhựa, phần sau thân xe nằm trên lề đường phía Bắc, đầu xe quay hướng N1, đuôi xe quay hướng Bắc, trục trước bên phải cách B là 8,85m, trục sau bên trái cách B là 11m, trục trước bên phải cách trục trước bên trái xe ô tô BKS 36A - 937.68 là 2,7m.
  • Số 5: Xe ô tô BKS 36A - 937.68 đỗ trên mặt đường nhựa, đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đ1, trục trước bên trái cách B là 6,8m, trục sau bên trái cách B là 6,6m, cách trục trước bên trải xe ô tô BKS 36A-829.52 là 1,3m, phần đầu xe bị kẹt vào bên phải phía trước thân xe ô tô BKS 36A-406.11, phần đuôi xe bị kẹt vào đầu xe ô tô BKS 36A-829.52.
  • Số 6: Xe ô tô BKS 36A - 829.52 đỗ trên mặt đường nhựa, đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đ1, trục trước bên trái cách B là 5.9m, trục sau bên trái cách B là 5,75m, cách trục trước bên trái xe ô tô BKS 30A-765.70 là 1,4m, phần đầu xe bị kẹt vào đầu xe ô tô BKS 30A-765.70.
  • Số 7: Xe ô tô BKS 30A - 705 70 đỗ trên mặt dương nhựa, đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đ1, trục trước bên trái cách B là 6.5m, trục sau bên trái cách B là 6,65m, phần đầu xe bị kẹt vào phía sau xe ô tô BKS 36A - 829.52.

Trên mặt đường tại khu vực hiện trường có nhiều mảnh nhựa rơi vãi với nhiều kích thước, hình dạng khác nhau.

Ngày 15/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trưng cầu giám định xác định điểm va chạm đầu tiên giữa các phương tiện; vị trí va chạm giữa các phương tiện trên mặt đường; chiều hướng và tốc độ di chuyển. Kết luận giám định số 658/KL-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  1. Va chạm giữa xe ôtô BKS 36A - 406.11 với xe ôtô BKS 36A - 937.68:
    • + Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước đầu xe ôtô BKS 36A - 406.11 (ảnh 4 đến 7) với mặt trước đầu xe (cách thành xe bên trái 40cm) ôtô BKS 36A - 937.68 (ảnh 13 đến 17).
    • + Tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện chuyển động ngược chiều.
    • + Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm tương ứng vị trí vết tỳ trượt lốp số (2) và số (3), thuộc phần đường dành cho xe cơ giới chiều từ xã H đi xã T.
  2. Va chạm giữa xe ôtô BKS 36A - 937.68 với xe ôtô BKS 36A-829.52:
    • + Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước đầu xe ôtô BKS 36A - 829.52 (ảnh 26 đến 29) với mặt sau đuôi xe (cách thành xe bên phải 35cm) ôtô BKS 36A - 937.68 (ảnh 20 đến 23).
    • + Tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện có hướng cùng chiều.
    • + Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm tương ứng vị trí xe ôtô BKS 36A - 937.68 (số E) và xe ôtô BKS 36A - 829.52 (số F), thuộc phần đường dành cho xe cơ giới chiều từ xã H đi xã T.
  3. Va chạm giữa xe ôtô BKS 36A - 829.52 với xe ôtô BKS 30A - 765.70:
    • + Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước bên trái đầu xe (cách thành xe bên trái 77cm) ôtô BKS 30A - 765.70 (ảnh 34 đến 40) với mặt sau bên phải đuôi xe (cách thành xe bên phải 78cm) ôtô BKS 36A - 829.52 (ảnh 31 đến 34).
    • + Tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện có hướng cùng chiều.
    • + Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm tương ứng vị trí xe ôtô BKS 36A - 829.52 (số F) và xe ôtô BKS 30A - 765.70 (số G), thuộc phần đường dành cho xe cơ giới chiều từ xã H đi xã T.
  4. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ôtô BKS 36A - 406.11 với xe ôtô BKS 36A - 829.52 và xe ôtô BKS 30A-765.70.
  5. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ôtô BKS 36A - 937.68 với xe ôtô BKS 30A - 765.70.

Ngày 11/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã lấy mẫu máu, mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn Đ, Phạm Thị Q, Bùi Văn T và Nguyễn Anh V để trung cầu giám định. Kết luận giám định số 1038/KL-KTHS ngày 14/3/2024 và Kết luận giám định số 1103/KL-KTHS ngày 19/3/2024/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Các mẫu máu, nước tiểu trên không có cồn, không tìm thấy chất ma túy.

Ngày 20/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T trưng cầu giám định tính nguyên vẹn và trích xuất hình ảnh trong video gửi giám định ( dữ liệu camera an ninh được trích xuất của gia đình chị Ngô Thị T2, ở thôn D, xã T, huyện T). Kết luận giám định số 2063/KL-KTHS ngày 29/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận vi deo không bị cắt ghép, chỉnh sửa; đồng thời trích xuất 04 ảnh thể hiện diễn biến vụ tai nạn giao thông.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 500/KL-HĐĐGTS ngày 12/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định:

  • + Xe ô tô BKS 36A-406.11 do bị cáo Nguyễn Anh V điều khiển có tổng thiệt hại bằng 53.352.000đ;
  • + Xe ô tô BKS 36A-937.68 do chị Q điều khiển có tổng thiệt hại bằng 109.458.000đ.
  • +Xe ô tô BKS 36A-829.52 do anh Đ điều khiển có tổng thiệt hại bằng 66.204.000đ;
  • + Xe ô tô 36A-765.70 do anh T điều khiển có tổng thiệt hại bằng 17.982.000đ;

(Các mục sửa chữa được thể hiện tại bút lục 139, 140)

Xác định lỗi trong vụ án này do Nguyễn Anh V điều khiển xe đi không đúng phần đường, không chú ý quan sát, đã gây nên toàn bộ thiệt hại của xe VIOS BKS 36A-937.68 do chị Q điều khiển bằng 109.458.000đ và gây thiệt hại phần đầu xe SONET BKS 36A-829.52 do anh Nguyễn Văn Đ điều khiển bằng 61.830.000đ. Tổng thiệt hại bằng 171.288.000đ.

Lỗi của anh Bùi Văn T điều khiển xe ô tô tham gia giao thông không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước. Lỗi của anh Bùi Văn T làm thiệt hại phần đuôi xe SONET BKS 36A-829.52 do anh Nguyễn Văn Đ điều khiển gây thiệt hại bằng 4.374.000đ.

Bản cáo trạng số 73/CT- VKS- TS, ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, truy tố bị cáo Nguyễn Anh V phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản thân có giấy phép lái xe hạng B2, đã điều khiển xe ô tô BKS 36A – 406.11 đi vào đường ngược chiều đi của bị cáo ( lý do đi vào phần đường bên trái là do bị cáo tránh xe đạp điện từ trong ngõ đi ra), đi không đúng phần đường, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, gây tai nạn giao thông, hành vi và hậu quả gây ra như bản cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng. Về phần bồi thường thiệt hại bị cáo trình bày đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình các bị hại. Bị cáo không có ý kiến gì.

Quá trình giải quyết vụ án người bị hại là vợ chồng chị Phạm Thị Q và anh Nguyễn Văn S; vợ chồng anh Nguyễn Văn Đ và chị Lê Thị N đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, đều khẳng định đã được bị cáo bồi thường thiệt hại, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Anh Nguyễn Văn Thế L người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án cũng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh V phạm tội “ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  • + Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; Điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Anh V từ 35.000.000đ ( ba mươi lăm triệu đồng) đến 45.000.000đ ( bốn mươi lăm triệu đồng). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  • + Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
  • + Về vật chứng: Trả lại 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 cho bị cáo.
  • + Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào phòng nghị án, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây thiệt hại về tài sản cho các gia đình bị hại nhưng bị cáo cũng đã khắc phục xong, gia đình bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội được tiếp tục cống hiến cho công tác khám chữa bệnh cho nhân dân trong xã.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bởi: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường; biên bản khám phương tiện; Bản kết luận giám định dấu vết trên phương tiện, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 11/02/2024, tại đường T, thuộc địa phận thôn D, xã T, huyện T, Nguyễn Anh V điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36A-406.11 đi vào phần đường ngược chiều, không đúng phần đường, không chú ý quan sát dẫn đến mặt trước đầu xe ô tô BKS 36A-406.11 do Nguyễn Anh V điều khiển đâm va vào mặt trước đầu xe ô tô BKS 36A-937.68 do chị Phạm Thị Q điều khiển làm xe chị Q bị đẩy lùi về phía sau, mặt sau đuôi xe của chị Q đâm va vào mặt trước đầu xe ô tô BKS 36A-829.52 do anh Nguyễn Văn Đ điều khiển. Hậu quả làm 02 xe ô tô của chị Phạm Thị Q và đầu xe ô tô của anh Nguyễn Văn Đ bị hư hỏng, tổng thiệt hại về tài sản là 171.288.000đ.

Hành vi của Nguyễn Anh V đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm d khoản 1, Điều 260 của Bộ luật hình sự.

[3] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông, đồng thời xâm phạm đến tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho mọi người khi tham gia giao thông. Trong vụ án này bị cáo V điều khiển xe ô tô đi vào phần ngược chiều đi của mình, lấn chiếm phần đường, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã đâm va vào xe ô tô đang lưu thông theo chiều ngược lại. Như vậy việc gây tai nạn như trên là hoàn toàn do lỗi của bị cáo, nên cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai khai, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; Ngoài ra còn được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; Trong quá trình công tác trong năm 2016, năm 2017 bị cáo được ban chấp hành Công đoàn ngành y tế tỉnh Thanh Hóa tặng “ giấy khen đạt thành tích xuất sắc trong phong trào công nhân viên chức lao động”; Bị cáo được trạm y tế xã H xác nhận trong quá trình công tác, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nâng cao tỷ lệ khám chữa bệnh, cấp cứu ban đầu, dự phòng dịch bệnh và đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo tiếp tục cống hiến, phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân trong xã H; Bị cáo có ông nội được hội đồng Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm hình sự: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hiện nay là bác sỹ đang công tác tại trạm y tế xã H, huyện T, thấy rằng việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân trên địa bàn xã cũng rất quan trọng, nên chỉ cần xử phạt tiền cũng đủ răn đe và ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo.

Về phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về vật chứng: Đối với các phương tiện liên quan đến tai nạn, sau khi tiến hành khám phương tiện cơ quan Công an đã trả lại cho chủ phương tiện đúng quy định của pháp luật nên không xét. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, không có ý kiến gì. Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[8]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Đối với hành vi Bùi Văn T tham gia giao thông không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe ô tô do anh Đ điều khiển có BKS 36A-829.52, gây tổng thiệt hại phần đuôi xe bằng 4.374.000 đồng, không làm thủ tục sang tên theo quy định, không có giấy chứng nhận bảo hiểm dân sự của chủ xe cơ giới, Cơ quan điều tra đã chuyển xử phạt hành chính theo quy định. Dành quyền khởi kiện vụ án dân sự cho anh Đ đối với phần thiệt hại về tài sản do anh T gây ra.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm d khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh V phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ";
  3. Phạt tiền:
    • + Bị cáo Nguyễn Anh Văn 4 ( Bốn mươi lăm triệu đồng).

    Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường, không có ý kiến gì thêm. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét.
  5. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Các xe ô tô đã trả lại cho các chủ phương tiện đúng quy định của pháp luật nên không xét. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Anh V, hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn theo biên bản bàn giao tang vật ngày 02/10/2024.

  6. Về án phí và quyền kháng cáo:
    • - Áp dụng: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Điều 331, 333, 337 Bộ luật tố tụng hình sự ; khoản 1 Điều 6; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tiểu mục 1, mục I danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo nghị quyết 326.

    Buộc bị cáo Nguyễn Anh V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    • - Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại có quyền có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình được tuyên trong bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND huyện Triệu Sơn;
  • - Công an huyện Triệu Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn anh Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger