TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/HS-ST Ngày: 29-11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Minh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình Thuỷ và bà Hoàng Thị Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Khải, là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên tòa: Ông Thái Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Văn Đ, sinh năm 1992 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn I, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ hoạc vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn M, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; tiền án: 01; Ngày 19-7-2022, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 01 năm 06 tháng tù theo Bản án số 41/2022/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26-4-2023; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 01-4-2010, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 16/2010/HS-ST. Ngày 31-8-2010 Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm xử phạt 12 tháng tù theo Bản án số 100/2010/HS-PT; Ngày 24-12-2010, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xử phạt 09 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ” theo Bản án số 55/2010/HS-ST. Tổng hợp hình phạt với phần hình phạt chưa chấp hành xong của Bản án số 100/2010/HS-PT ngày 31-8-2010 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông buộc chấp hành 01 năm 04 tháng tù; Ngày 05/01/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 02/2011/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của các
Bản án trên ngày 07-11-2017. Bị cáo đã được xoá án tích; Ngày 15-10-2021, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 26/XPVPH. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26 tháng 8 năm 2024 – Có mặt.
- Bị hại: Ông Trương Công Việt C, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Đình V, sinh năm 1978; địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên khoảng 09 giờ ngày 24-8-2024, Phan Văn Đ đi bộ từ huyện T đến huyện Đ để tìm kiếm tài sản sơ hở trộm cắp. Khi đi đến thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì Đ thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL biển kiểm soát 76V3-5522, màu đỏ của anh Trương Công Việt H1 không có người trông coi, trên ổ khóa xe đang cắm chìa khóa nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe này. Đồng đi lại vị trí xe mô tô dắt ra đường nổ máy rồi điều khiển xe đi theo hướng Ủy ban nhân dân xã Đ, đi được một đoạn thì Đ dừng xe mở cốp xe thấy bên trong có giấy đăng ký xe, giấy bảo hiểm xe. Sau đó, Đ tiếp tục điều khiển xe đi về sử dụng xe làm phương tiện đi lại. Khoảng 16 giờ ngày 25-8-2024, Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76V3-5522 đến tiệm sửa xe của anh Nguyễn Tuấn H tại thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để sửa xe nhưng do không có tiền nên Đ bán lại chiếc xe mô tô này cùng giấy tờ cho anh H với số tiền 800.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 41 ngày 27-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:
Giá trị thành tiền còn lại của xe mô tô nhãn hiệu: ORIENTAL, loại: nữ, màu sơn: đỏ, số máy: 00014347, số khung: 014347, biển kiểm soát 76V3-5522, tại thời điểm ngày 24/8/2024 là: 2.500.000 đồng.
Cáo trạng số 75/CT-VKS-ĐS ngày 08-11-2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đắk Song để xét xử bị cáo Phan Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản”
là đúng, không oan và không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và khẳng định quyết định truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi xem xét, đánh giá các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị Phạm Văn Đ1 về tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không đặt vấn đề giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL biển kiểm soát 76V3-5522, 01 giấy đăng ký xe và 01 giấy đăng ký bảo hiểm tự nguyện của xe mô tô mang biển kiểm soát 76V3-5522, 01 chìa khoá xe cho anh Trương Công Việt H1; Truy thu số tiền 800.000 đồng của Phan Văn Đ, là tiền có được do phạm tội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi khách quan và hậu quả do hành vi khách quan của bị cáo gây ra, bị cáo khai nhận như sau:
Tại phiên toà, bị cáo Phan Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ
quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.
Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng 09 giờ ngày 24-8-2024 tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Phan Văn Đ đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL, biển kiểm soát 76V3-5522 trị giá 2.500.000 đồng của anh Trương Công Việt H1.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Phan Văn Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3]. Đánh giá tính chất vụ án:
Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác và làm mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết được việc xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức coi thường pháp luật, lười lao động, để có tài sản sử dụng phục vụ cho lợi ích cá nhân của bản thân, bị cáo có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL, biển kiểm soát 76V3-5522 trị giá 2.500.000 đồng của anh Trương Công Việt H1.
Do đó, để đảm bảo việc giáo dục các bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây để đảm bảo được mục đích của hình phạt theo pháp luật, đồng thời đây còn là bài học cho những ai có ý định trộm cắp tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo Phan Văn Đ có nhân thân xấu, có 01 tiền án, ngày 19-7-2022 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 01 năm 06 tháng tù theo Bản án số 41/2022/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26-4-2023 (chưa được xoá án tích).
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phan Văn Đ đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện tội phạm “Trộm cắp tài sản” với lỗi cố ý. Vì vậy, bị cáo Phan Văn Đ bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL biển kiểm soát 76V3-5522, 01 giấy đăng ký xe mô tô số 0075736 có biển kiểm sát 76V3-5522, 01 giấy đăng ký bảo hiểm tự nguyện của xe mô tô mang biển kiểm soát 76V3-5522 và 01 chìa khoá xe mô tô của xe mô tô mang biển kiểm soát 76V3-5522 đã qua sử dụng của anh Trương Công Việt H1, ngày 23-10-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sơ hữu hợp pháp là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật năn cần chấp nhận.
Đối với số tiền 800.000 đồng bị cáo có được do phạm tội, cần buộc bị cáo nộp để tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7]. Các tình tiết liên quan đến vụ án: Đối với hành vi mua tài sản trộm cắp: Xét thấy của anh Nguyễn Tuấn H mua tài sản do trộm cắp mà có nhưng không biết nên không phạm tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn Đồng phạm T “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/8/2024.
2. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 152/QĐ-CQĐT ngày 23-10-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ.
Buộc bị cáo Phan Văn Đ nộp số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Văn Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Đình Minh |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giam
