Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH BẢO

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày 14-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Quốc Việt

Bà Nguyễn Thị Tâm

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện V, thành phố Hải Phòng), Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2024/TLST - HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh ngày 22 tháng 11 năm 1982 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức L1 và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị T; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 13/2017/HSST ngày 29-6-2017, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Văn M 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích); Quyết định xử phạt hành chính ngày 27-7-2009 của Công an huyện V phạt Nguyễn Văn M 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc ngày 30-3-2009 (được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); bị tạm giữ từ ngày 19-10-2023 đến ngày 25-10-2023 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Anh M1, nơi cư trú: Xóm E, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

+ Anh Phạm Văn T1, nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Chị Lê Thị Kiều D, vắng mặt;

+ Chị Nguyễn Diễm M2, vắng mặt;

+ Anh Đặng Văn T2, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 15-10-2023, tại khu vực chân cầu N thuộc Quận L, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn M mua của một người nam giới không quen biết 01 túi nilon ma túy dạng ke với số tiền 1.100.000 đồng. M cất số ma túy trên ở nhà, đến khoảng 21 giờ ngày 17-10-2023, Trần Anh M1 gọi điện thoại rủ M đến quán K ở thôn B, xã L, huyện V, thành phố Hải Phòng để hát. M đồng ý và cầm theo 01 túi ma túy dạng "ke" và 01 viên ma túy dạng kẹo với mục đích khi đến phòng hát sẽ sử dụng. Khi đi đến Karaoke P, mạnh hỏi Phạm Văn T1 là nhân viên quầy lễ tân "Anh M1 ở phòng nào?" thì được T1 chỉ lên tầng 4 của quán, M nói với T1 “Anh sẽ thanh toán tiền phòng hát” rồi M đi lên tầng 4. Khi vào phòng M thấy đã có M1 và Đặng Văn T2 và 02 nhân viên là Lê Thị Kiều D và Nguyễn Diễm M2. M vào ngồi ở ghế sô pha cuối phòng (tính từ cửa vào). Sau khi hát được khoảng 30 phút thì M lấy viên ma túy dạng kẹo bẻ ½ viên đưa cho T2 sử dụng, còn ½ viên M bẻ một ít đưa cho M2 sử dụng, còn lại M sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy dạng kẹo xong, M thấy có 01 đĩa thủy tinh đựng hoa quả ở trên bàn, M bỏ hoa quả ra và dùng giấy vệ sinh lau khô đĩa thuỷ tinh. M lấy 01 túi ma túy dạng Ketamine vừa mang đi, đổ ma túy vào đĩa, M lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn thành ống tròn rồi lấy giấy ở đầu lọc thuốc lá cố định tờ tiền lại để làm dụng cụ sử dụng ma túy ke, M thấy trên bàn có một thẻ nhựa (dạng thẻ ngân hàng), M dùng thẻ nhựa này tán mịn ke trên đĩa, sau đó có một nhân viên nữ tên T3 (không rõ lai lịch, địa chỉ) đi vào phòng. Sau khi tán "ke" xong, M sử dụng và lần lượt mời M1, T2, D, M2 và T3 sử dụng ma túy ke. Sau khi sử dụng xong, do phê ma túy nên M nằm ra ghế. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, có người nói “có Công an kiểm tra” thì T2 và T3 đi ra khỏi phòng hát còn M, M1, D, M2 ở trong phòng và bị tổ công tác Công an huyện V kiểm tra, lập biên bản. Việc chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy như: lấy đĩa thủy tinh, lau đĩa, cuộn ống hút từ tờ tiền 10.000 đồng, lấy thẻ nhựa, tán ke và kẻ ke đều do một mình M làm, không có ai giúp sức cho M, ở trong phòng chỉ có M mời mọi người sử dụng ma túy, còn không ai mời ai sử dụng ma túy. Quá trình điều tra xác định, T2, M1, D, M2 và T3 sử dụng ma túy dạng “ke, kẹo” do M mang đến thì không ai phải trả tiền hay lợi ích vật chất nào khác cho M.

Quá trình khám nghiệm, phát hiện và thu giữ trên bàn số 1 có 01 cốc thuỷ tinh bên trong có dung dịch trong suốt (ký hiệu M1), thu trên bàn số 2 có 01 cốc thuỷ tinh bên trong có dung dịch màu đen (ký hiệu M2), thu 01 túi nilon viền mép màu xanh gần bàn số 2, cách tường hướng Bắc 0,55m, cách tường hướng Đông 1,2m, cách chân bàn 5cm (ký hiệu M3), thu 01 túi nilon viền túi màu xanh cách chân bàn số 2 là 0,35m, cách tường hướng Đông 0,65m (ký hiệu M4), thu 01 đĩa thủy tinh hình tròn ở trong bồn rửa mặt ở nhà vệ sinh nam tầng 4 (ký hiệu M5) và thu 01 vật hình tròn được cuộn từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng ở chân bồn cầu trong nhà vệ sinh nam tầng 4 (ký hiệu M6), thu giữ 01 đầu thu camera nhãn hiệu DAHUA, mã SN: 7L0A5BEPAZ35A4C, bên trong có 01 ổ cứng nhãn hiệu Wesstern Digital 4TB, mã SN: WX92DA1DANZK của quán. Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 điện thoại Samsung Galaxy S22 màu xanh gắn sim số 0983.700.888 và số tiền 1.500.000 đồng của Trần Anh M1, thu 01 điện thoại Iphone XS màu vàng gắn sim số 0981.223.286 của Nguyễn Văn M.

Tại Bản Kết luận giám định số 816/KL-KTHS ngày 23-10-2023 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: “Chất lỏng không màu của mẫu kí hiệu M1 gửi giám định có thể tích 65ml, không tìm thấy các chất ma tuý; Chất lỏng màu đen của mẫu kí hiệu M2 gửi giám định có thể tích 145ml, không tìm thấy các chất ma tuý; Chất bột màu trắng bám dính trong vỏ túi nilon của mẫu ký hiệu M3 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma tuý bám dính trên; Chất bột màu trắng bám dính trong vỏ túi nilon của mẫu ký hiệu M4 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma tuý bám dính trên. Đĩa thuỷ tinh của mẫu kí hiệu M5 gửi giám định không tìm thấy thành phần các chất ma tuý. Ông cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000.000 đồng của mẫu kí hiệu M6 gửi giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma tuý”.

Kết luận giám định số 817/KL-KTHS ngày 23-10-2023 của Phòng K1 Công an thành phố H có nội dung: “Các mẫu nước tiểu ghi tên Trần Anh M1 (Mẫu A1); Nguyễn Văn M (mẫu A2); Nguyễn Diễm M2 (Mẫu A3) và Lê Thị Kiều D (mẫu A4) gửi giám định đều tìm thấy chất ma tuý, loại MDMA và Ketamine” .

Kết luận giám định số 836/KL-KTHS ngày 26-10-2023 của Phòng K1 Công an thành phố H có nội dung: “Mẫu nước tiểu ghi tên Đặng Văn T2 (Mẫu A5 gửi giám định tìm thấy chất ma tuý, loại MDMA và Ketamine" .

Kết luận giám định số 793/KL-KTHS ngày 04-01-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H có nội dung: “Trích xuất thông tin 708 cuộc gọi; 2955 danh bạ; 80 cuộc trò chuyện Facebook Messenger; 04 cuộc trò chuyện Line; 52 cuộc trò chuyện Messages; 17 cuộc trò chuyện zalo trong khoảng thời gian từ ngày 18/10/2023 trở về trư ớc trên điện thoại nhãn hiệu IPHONE có số IMEI: 357201095531011; IMEI2: 357201095414200. Sim in dãy số 8984048000049351464 có số ICCID: 89840480000493514642, không tìm thấy dữ liệu liên quan đến nội dung sự việc. Trích xuất thông tin 494 cuộc gọi; 3766 danh bạ; 34 cuộc trò chuyện Messages trong khoảng thời gian từ ngày 18/10/2023 trở về trước trên điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG có số IMEI1: 355066964020608; IMEI2: 356497464020609. Sim in dãy số 8984048000025875847 có số ICCID: 89840480000258758475, không tìm thấy dữ liệu liên quan đến nội dung sự việc” (bút lục số 108).

Kết luận giám định số 792/KL-KTHS ngày 08-01-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H có nội dung: “Trích xuất 357 tập tin có phần mở rộng DAV trong khoảng thời gian ghi hình từ ngày 17-10-2023 đến hết ngày 18/10/2023 (theo nhãn thời gian trên khung hình) trên ổ cứng nhãn hiệu Wesstern Digital 4TB, mã SN: WX92DA1DANZK của đầu thu camera nhãn hiệu DAHUA, mã SN: 7L0A5BEPAZ35A4C. Thông tin dữ liệu và báo cáo cụ thể trong đối tượng giám định được lưu vào ổ cứng gửi kèm theo. Kèm theo kết luận giám định: 01 ổ đĩa lưu dữ liệu".

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại Samsung Galaxy S22 màu xanh gắn sim số 0983.700.888 và số tiền 1.500.000 đồng, 01 điện thoại Iphone XS màu vàng gắn sim số 0981.223.286; 01 chai nhựa có nắp ren xoáy đậy của mẫu M1, 70 ml chất lỏng màu đen đựng trong chai nhựa có nắp ren xoáy đậy của mẫu M2, 01 vỏ túi nilon của mẫu M3, 01 vỏ túi nilon của mẫu M4, 01 đĩa thuỷ tinh của mẫu M5 được niêm phong lại trong một hộp giấy, dấu niêm phong số 816MT/PC09; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số MTA/PC09 và 01 đầu thu camera nhãn hiệu DAHUA, mã SN: 7L0A5BEPAZ35 bên trong có 01 ổ cứng nhãn hiệu Wesstern Digital 4TB, mã SN: WX92DA1DANZK. Số vật chứng này đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng quản lý.

Tại Bản Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 07 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố Nguyễn Văn M về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự (với tình tiết định khung “phạm tội đối với 02 người trở lên”.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 07 năm 03 tháng tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17-10-2023 tại phòng hát số 01 ở tầng 4 của quán K ở thôn B, xã L, huyện V, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn M đã có hành vi chuẩn bị ma túy, công cụ, phương tiện để tự sử dụng và cho 05 đối tượng Trần Anh M1, Đặng Văn T2, Lê Thị Kiều D, Nguyễn Diễm M2 và 01 người phụ nữ tên T3 sử dụng trái phép chất ma tuý loại MDMA và Ketamine thì bị bắt. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định Điều 255 của Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung: Bị cáo đã có hành vi tổ chức sử dụng, đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể 05 người là Trần Anh M1, Đặng Văn T2, Lê Thị Kiều D, Nguyễn Diễm M2 và 01 người phụ nữ tên T3 thuộc trường hợp phạm tội “đối với 02 người trở lên”. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo đã từng vi phạm pháp luật và bị xử lý, tuy đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo tuy không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu tại địa phương. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy S22 màu xanh gắn sim số 0983.700.888 và số tiền 1.500.000 đồng thu giữ của Trần Anh M1 là tài sản hợp pháp của anh M1, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho anh M1. Đối với 01 điện thoại Iphone XS màu vàng gắn sim số 0981.223.286 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn M là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo. Đối với 01 chai nhựa có nắp ren xoáy đậy của mẫu M1, 70 ml chất lỏng màu đen đựng trong chai nhựa có nắp ren xoáy đậy của mẫu M2, 01 vỏ túi nilon của mẫu M3, 01 vỏ túi nilon của mẫu M4, 01 đĩa thuỷ tinh của mẫu M5 được niêm phong lại trong một hộp giấy, dấu niêm phong số 816MT/PC09 là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số MTA/PC09 là công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 đầu thu camera nhãn hiệu DAHUA, mã SN: 7L0A5BEPAZ35 bên trong có 01 ổ cứng nhãn hiệu Wesstern Digital 4TB, mã SN: WX92DA1DANZK là tài sản thu giữ của anh Trần Xuân T4 nên cần trả lại cho anh T4.

[9] Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các đối tượng Trần Anh M1, Đặng Văn T2, Lê Thị Kiều D, Nguyễn Diễm M2, Cơ quan Công an đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[10] Đối với nữ nhân viên tên T3 đến nay Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên tiếp tục xác minh và xử lý sau.

[11] Đối với Phạm Văn T1 là nhân viên quầy lễ tân quán K nhưng không biết các đối tượng sử dụng ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T1.

[12] Đối với Trần Trọng T5 là người đứng ở cửa phòng nói “có Công an kiểm tra” và là người cầm đĩa thuỷ tinh từ phòng hát giấu vào nhà vệ sinh nam tầng 4, T5 hiện vắng mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[13] Quá trình tổ công tác Công an huyện V tiến hành kiểm tra quán K thì cổng quán Karaoke không bị khoá, hệ thống điện vẫn bật sáng. Trong lúc tổ công tác kiểm tra thì tầng 4 bị mất điện trong khoảng thời gian 15-20 phút, việc mất điện ở tầng 4 không xác định được là do sự cố hay có người tắt điện. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý về hành vi Chống người thi hành công vụ.

[14] Đối với cơ sở kinh doanh quán K đã bị đình chỉ hoạt động theo Quyết định số 54/QĐĐC-PC07 ngày 17/01/2023 của Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an thành phố H nhưng vẫn tiếp tục hoạt động, kinh doanh. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Đội Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an huyện V để xử lý theo thẩm quyền.

[15] Đối với người nam giới bán ma tuý dạng kẹo và dạng Ketamine cho Nguyễn Văn M ngày 15/10/2023, quá trình điều tra chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

[16] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[17] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 07 (Bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19-10-2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa có nắp ren xoáy đậy của mẫu M1, 70 ml chất lỏng màu đen đựng trong chai nhựa có nắp ren xoáy đậy của mẫu M2, 01 vỏ túi nilon của mẫu M3, 01 vỏ túi nilon của mẫu M4, 01 đĩa thuỷ tinh của mẫu M5 được niêm phong lại trong một hộp giấy, dấu niêm phong số 816MT/PC09;
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số MTA/PC09;
  • - Trả lại cho anh Trần Anh M1 01 điện thoại Samsung Galaxy S22 màu xanh gắn sim số 0983.700.888 và số tiền 1.500.000 đồng;
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M 01 điện thoại Iphone XS màu vàng gắn sim số 0981.223.286;
  • - Trả lại cho anh Trần Xuân T4 01 đầu thu camera nhãn hiệu DAHUA, mã SN: 7L0A5BEPAZ35 bên trong có 01 ổ cứng nhãn hiệu Wesstern Digital 4TB, mã SN: WX92DA1DANZK;

(Các vật chứng theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 29-10-2024, giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an TP Hải Phòng (PV06, PC10);
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Bảo;
  • - Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Liên Am, huyện Vĩnh Bảo;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger