|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 85/2024/HS-ST Ngày 12 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Bình và bà Phạm Thị Bích Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thực - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích T - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Q - Sinh ngày 03/10/1986, tại thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi thường trú: Xóm X, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Nơi ở hiện nay: Thôn M, Thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Hữu N - Sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị H - sinh năm 1959, gia đình có 04 anh em bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; có vợ là: Hoàng Thị N1 - Sinh năm 1986 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án: Có 01 tiền án: Tại bản án số 57/2021/ HS-ST ngày 14/9/2021, của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 03 năm tù về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/3/2024.
Tiền sự: Không có.
Nhân thân:
- - Ngày 18/11/2009, Công an thị xã S (nay là thành phố S) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Trộm cắp tài sản, mức phạt 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
- - Ngày 08/8/2011, Đồn Công an Đ1, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt vi phạm hành chính, hình thức xử phạt cảnh cáo về hành vi: “Gây mất trật tự công cộng”.
- - Ngày 16/8/2018, bị Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng.
- - Tại bản án số 44/2011/HSST ngày 20/12/2011, của Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 42 tháng tù về tội: “Vận chuyển hàng cấm”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2014, chấp hành xong án phí ngày 23/02/2012 (Đã được xoá án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/7/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên toà)
- Bị hại: Anh Đào Trọng K - Sinh năm 2003;
Nơi đăng ký HKTT: Tổ E, thị trấn V. Huyện B, tỉnh Hà Giang.
Nơi ở hiện nay: TDP K, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên
(Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
- - Chị Hoàng Thị L - Sinh năm 1984;
- Nơi cư trú: Khu L, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
- - Chị Lộc Mỹ N2 – Sinh năm: 1990;
- Nơi cư trú: Khu L, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
- - Anh Vũ Anh Q1 - sinh năm 1996;
- Nơi cư trú: TDP B, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 13/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 12D1-297.12 chở chị Lộc Mỹ N2 cùng Đồng Chí Cao (Sinh năm 1986, trú tại tổ E khu N, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, là bạn của Q) di chuyển từ khu Công nghiệp Đ thuộc huyện V, tỉnh Bắc Giang đến thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, cả nhóm đi uống bia và hát tại quán K1, thuộc tổ dân phố K, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
Đến khoảng 02 giờ ngày 14/7/2024, sau khi hát xong, bị cáo Q điều khiến xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 12DI-297.12 chở chị N2 đi đến nhà nghỉ C, thuộc tổ dân phố K, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thuê phòng nghỉ. Tại đây, Q gặp anh Đào Trọng K, là nhân viên lễ tân nhà nghỉ) hỏi thuê phòng. Sau khi kiểm tra thông tin cá nhân, anh K đưa chìa khóa và hướng dẫn Q lên phòng số 402 nghỉ. Khi lên đến cửa phòng, Q dùng chìa khóa mở cửa đi vào trước, chị N2 đứng phía ngoài đợi. Khi bật điện bên trong phòng, Q phát hiện 01 chiếc ví da màu xám ở trên mặt bàn gỗ đối diện cửa ra vào (chiếc ví trên là của anh Đào Trọng K tối ngày 13/7/2024, anh K lên dọn phòng và để quên ví ở đó), nghĩ trong ví sẽ có tiền nên Q nảy sinh ý định lấy trộm chiếc ví. Sau đó, Q nhanh chóng đi đến bàn gỗ dùng tay phải cầm chiếc ví cho vào trong cạp quần phía trước bụng và chùm áo lên che rồi đi vào nhà vệ sinh của phòng nghỉ để kiểm tra. Khi mở ví ra để kiểm tra, Quang đếm được trong ví có số tiền 16.257.000 đồng (Mười sáu triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn đồng) gồm các tờ tiền polime có mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng, 50.000 đồng, 20.000 đồng, 10.000 đồng và các tờ tiền giấy có mệnh giá 5.000 đồng, 1.000 đồng. Lúc này, Q rút 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) để vào túi quần phía sau bên phải, số tiền còn lại Q cất vào trong ví rồi cất chiếc ví vào túi quần phía trước bên phải Q đang mặc và đi tắm. Sau khi tắm xong, Q mặc lại bộ quần áo đã mặc trước đó rồi cất giấu chiếc ví vào cạp quần phía trước bụng, số tiền 600.000 đồng Q lấy ra lúc trước vẫn để ở túi quần bên phải. Q đi ra khỏi phòng tắm, thấy chị N2 đang nằm ở trên giường, Q nói "anh chạy ra ngoài một tí" rồi đi xuống lấy xe mô tô di chuyển trên đường N, hướng đi lên khu Công nghiệp S mục đích tìm chỗ cất giấu số tiền vừa lấy trộm cắp được. Đi được khoảng 2 km, Q điều khiển xe rẽ trái vào khu công trình đang xây dựng thuộc tổ dân phố K, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Q dựng xe tại lề đường, lấy chiếc ví được cất ở trong cạp quần ra và lấy hết số tiền ra khỏi ví. Sau đó, Q dùng tay nâng nắp cống thoát nước lên rồi ném chiếc ví xuống dưới cống. Tiếp đó, Q cầm số tiền vừa lấy từ trong ví rồi đi sang bên lề đường phía đối diện, dùng tay cậy 01 viên gạch lát đường màu đỏ, hình lục giác kích thước khoảng (20x30)cm và để toàn bộ số tiền vừa lấy được xuống dưới rồi đậy viên gạch lại (số tiền 600.000 đồng Q lấy ra lúc trước vẫn để ở trong túi quần bên phải) và quay về nhà nghỉ. Về phía anh K đến khoảng 06 giờ sáng ngày 14/7/2024, không thấy chiếc ví của mình ở đâu, mới nhớ ra đã để quên trên phòng 402, anh K đi lên phòng hỏi Q "Anh có thấy cái ví nào ở trong phòng không", Q trả lời "không thấy", nghi ngờ Q đã lấy chiếc ví tiền nên anh K yêu cầu Q không được rời khỏi nhà nghỉ, đồng thời trình báo nội dung sự việc đến Công an phường B.
Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an thành phố Sông Công đã đến hiện trường, lập biên bản và thu giữ:
- 01 ví da màu xám, kích thước (20x11) cm, mặt ngoài ví có dòng chữ "GD" đưa vào bì niêm phong ký hiệu A;
- Số tiền 15.657.000 đồng đưa vào bì niêm phong ký hiệu B;
- Số tiền 600.000 đồng đưa vào bì niêm phong ký hiệu C;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp thẻ sim số thuê bao 0963.982.182 của Nguyễn Văn Q, đưa vào bì niêm phong ký hiệu D;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Pro, màu vàng, đã qua sử dụng của Lộc Mỹ N2 đưa vào bì niêm phong ký hiệu L;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen xám, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 12D1-297.12 của Lộc Mỹ N2;
- 02 đĩa CD lưu trữ video, hình ảnh tại nhà nghỉ C và nhà nghỉ Q2, đưa vào bì niêm phong ký hiệu U2 và V2.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu A, bên trong chứa 01 chiếc ví da màu xám có xọc kẻ caro màu trắng, kích thước (20x11)cm, mặt ngoài ví có dòng chữ "GD";
- 01 bì niêm phong ký hiệu X, bên trong chứa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen, đã qua sử dụng. Hiện những vật chứng trên được chuyển bảo quản theo quy định về quản lý vật chứng.
- Đối với các bì niêm phong ký hiệu U2 và V2 bên trong có chứa 02 đĩa CD lưu trữ các hình ảnh, video camera liên quan đến vụ án, được chuyển theo hồ sơ vụ án.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen xám, biển kiểm soát 12D1-297.12 là tài sản của chị Hoàng Thị L. Ngày 29/8/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen xám mang BKS 12D1-297.12 cho chị Hoàng Thị L.
- Đồi với hiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Pro, màu vàng, đã qua sử dụng là tài sản của chị Lộc Mỹ N2. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Q. Ngày 29/8/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13Pro, màu vàng, đã qua sử dụng cho chị Lộc Mỹ N2.
- Đối với số tiền 15.657.000 đồng trong bì niêm phong ký hiệu B và số tiền 600.000 đồng trong bì niêm phong ký hiệu C, tài liệu điều tra xác định là tài sản của anh Đào Trọng K. Ngày 26/9/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh K số tiền trên.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Đào Trọng K đã nhận lại toàn bộ số tiền 16.257.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 84/CT - VKS ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Nguyễn Văn Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra.
- Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Q từ 15 – 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của BLTTHS: Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc ví da màu xám có xọc kẻ caro màu trắng (Được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu A). Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST nộp ngân sách nhà nước theo quy định.
Bị cáo Nguyễn Văn Q không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Khi được nói lời sau cùng bị cáo có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, tự nguyện nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, vì đã phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:
Khoảng 02 giờ ngày 14/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn Q cùng bạn gái (Chị Lộc Mỹ N2) đến thuê phòng số 402 nhà nghỉ C (Thuộc tổ dân phố K, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên). Khi vào trong phòng nghỉ nêu trên bị đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc ví da màu xám của anh Đ Trong Khơi là nhân viên lễ tân của nhà nghỉ (chiếc ví trên là của anh K tối ngày 13/7/2024, anh K lên dọn phòng và để quên ví ở trong phòng nghỉ 402), bên trong ví có số tiền 16.257.000 đồng. Số tiền trên đã được thu hồi và trả lại cho anh K. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
Điều 173 BLHS. Tội trộm cắp tài sản.
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là ít nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi cá nhân muốn có tiền để tiều xài nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy, cần có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình 01 tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là: “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Xét nhân thân, thấy bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị xử phạt tù và xử lý vi phạm hành chính nhiều lần về các hành vi khác nhau, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân, lao động, làm ăn lương thiện mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu và coi thường pháp luật. Vì vậy, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, nhưng căn cứ nhân thân cũng như tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết xét xử bị cáo bằng hình phạt tù, buộc phải cách ly xã hội một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền...Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã có hành vi trộm cắp số tiền 16.257.000 đồng của anh Đào Trọng K, số tiền trên đã được thu hồi trả lại đầy đủ cho anh K, nay anh K không có yêu cầu đề nghị gì thêm đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án như sau: Áp dụng Điều 106 của BLTTHS xử lý vật chứng vụ án như sau:
- - Đối với 01 chiếc ví da màu xám của anh Đào Trọng K, anh K xác định hiện chiếc ví đã hết giá trị sử dụng và không có yêu cầu được nhận lại chiếc trên, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, xét thấy đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo, không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo, như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[8] Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Q với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
[9] Trong vụ án này có chị Lộc Mỹ N2 là người đi cùng với bị cáo Q vào nhà nghỉ C rạng sáng ngày 14/7/2024. Quá trình điều tra xác định khi vào nhà nghỉ Q vào phòng trước và lấy chiếc ví của anh K để trên bàn, chị N2 vào sau không nhìn thấy chiếc ví. Chị N2 không biết việc bị cáo trộm cắp chiếc ví trên và cũng không được hưởng lợi gì từ số tiền mà Q đã trộm cắp. Do đó không có căn cứ để xử lý đối với chị N2.
[10]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST nộp vào ngân sách nhà nước Nhà nước theo quy định pháp luật
[11].Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn Luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- - Điều 106, Điều 136 và Điều 329, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giam ngày 16/7/2024.
- Ra Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Q với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 173 của BLHS.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc ví da màu xám có xọc kẻ caro màu trắng, kích thước (20x11) cm, mặt ngoài ví có dòng chữ "GD" (được niêm phong trong bì 01 bì niêm phong ký hiệu A),
- - Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen, đã qua sử dụng (Được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu X) để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 10 năm 2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Bị hại (Anh Đào Trọng K) có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toản |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. 2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giam ngày 16/7/2024.
