TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-10-2024 V/v ly hôn | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và ông Nguyễn Công Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 81/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mai H; địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Cao Văn T; địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mai H và ông Cao Văn T chung sống với nhau từ đầu năm 2011, đến ngày 27/6/2011 bà H và ông T cùng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn, ông T không tìm kiếm công việc làm để xây dựng cuộc gia đình mà chỉ chơi bời cùng bạn bè, sau đó bà H còn phát hiện ông T sử dụng ma túy nên đã khuyên can nhiều lần nhưng ông T không chấm dứt việc sử dụng ma túy nên ông T phải đi cai nghiện ma túy khoảng hơn một năm tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai nhưng khi trở về gia đình, bản thân ông T không có thay đổi, thường ngày ông T không chịu lao động, làm các công việc trong gia đình mà tiếp tục cùng bạn bè sử dụng ma túy nên bà H không chấp nhận việc tiếp tục chung sống cùng ông T. Từ đầu năm 2013 đến nay, bà H và ông T đã sinh sống riêng, các bên không còn liên lạc, quan tâm đến cuộc sống của mỗi người. Do hôn nhân không hạnh phúc nên bà H đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Bà Phạm Thị Mai H và ông Cao Văn T không có con chung.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Bà Phạm Thị Mai H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến; không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Phạm Thị Mai H được ly hôn với ông Cao Văn T. Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Phạm Thị Mai H và ông Cao Văn T tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật nên hôn nhân hợp pháp. Do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bà H muốn ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông T nên có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về ly hôn nên quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là về “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn cư trú tại: Thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Ia Grai có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, việc vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn:
Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được thể hiện: Bà Phạm Thị Mai H và ông Cao Văn T đều tự nguyện trong việc xác lập quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, sau khi kết hôn, bà H chung sống không hạnh phúc vì ông T không có trách nhiệm trong việc cùng với bà H chăm lo, xây dựng hạnh phúc gia đình mà ông T thường xuyên chơi bời cùng bạn bè, sử dụng ma túy nên phải đi cai nghiện. Sau khi trở về gia đình, ông T không thay đổi lối sống mà tiếp tục tái diễn việc sử dụng ma túy nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Do đó, từ năm 2013 đến nay, bà H và ông T không còn chung sống với nhau nhưng các bên đều không tìm cách khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ, thể hiện các bên đều không còn quan tâm, thương yêu nhau, tình cảm vợ chồng không còn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thông báo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng ông T không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không tham gia tố tụng, cho thấy ông T không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân với bà H nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc ly hôn với ông T.
[2.2] Về con chung: Bà H và ông T không có con chung.
[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Phạm Thị Mai H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điểu 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mai H.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Mai H và ông Cao Văn T.
- Về án phí: Bà Phạm Thị Mai H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009556 ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Vũ |
Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 10/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về ly hôn
- Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Mai H - Cao Văn T
