TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 85/2024/HS-ST Ngày: 26 – 9 – 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng
2. Bà Phan Thị Vui
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 09/9/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 10/9/2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn N, sinh năm 1995 tại: tỉnh Nghệ An.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ 02, ấp D, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Chỗ ở hiện nay: Tổ F, khu phố G, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha: Bùi Văn Ý, sinh năm 1970, Mẹ: Bùi Thị X, sinh năm 1970; Bị cáo có 02 anh, chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất là bị cáo; có vợ là Nguyễn Thị Thu U, sinh năm 1998 ( Đã ly hôn); có 01 là Bùi Hải Đ sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không
Về nhân thân: Ngày 04/11/2020, Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 112/HSST, chấp hành xong án phạt tù vào tháng 12/2021; Ngày 12/07/2022, Công an huyện H, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 400.000đ về hành vi gây rối trật tự công cộng, ngày 28/07/2022 N đã nộp tiền phạt.
1
Ngày 25/05/2024 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị bắt quả tang, đến ngày 03/06/2024 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 25/5/2024, khi Bùi Văn N đang ở nhà trọ tại tổ F, khu phố G, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì Nguyễn Dương Tố M (Bạn gái N) và Hồ Trọng T đi từ phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước lên nhà trọ của N chơi. Lúc này do có nhu cầu sử dụng ma túy nên N một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 93P1-128.84 đi từ nhà trọ đến khu vực gần cây xăng “ĐVT” thuộc khu phố G, thị trấn T, huyện H tìm một người nam thanh niên tên P ( chưa rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, N điều khiển xe về nhà và vào phòng khách lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi lấy một ít ma túy trong gói ma túy mới mua bỏ vào nỏ thủy tinh của bộ D sử dụng ma túy để sử dụng và gọi Nguyễn Dương Tố M sử dụng ma túy cùng, còn T nằm trong buồng bấm điện thoại không sử dụng ma túy. Đối với số ma túy còn lại N dán kín để ở gần chỗ ngồi để ngày mai tiếp tục sử dụng. Khi N và Mỹ đang hút ma túy thì lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Bùi Văn N, Nguyễn Dương Tố M cho kết quả dương tính (có sử dụng ma túy), Hồ Trọng T cho kết quả âm tính.
Căn cứ Kết luận giám định số: 530/2024/GĐ-MT ngày 31/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Chất màu nâu đen ( Ký hiệu M1) bám dính trong nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đi giám định là ma túy; loại Methamphetamine có khối lượng là 0,0119 gam.
Tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) đựng trong 01 gói nylon, hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,1730g (B1 07).
Vật chứng đã thu giữ:
- 01 gói ma túy ( ký hiệu M1) đã được niêm phong trong bì thư.
- 01 gói ma túy ( ký hiệu M2) đã được niêm phong trong bì thư.
- 01 nỏ thủy tinh có kích thước dài 7,5cm, một đầu của nỏ thủy tinh được uốn cong hình bầu tròn, 01 kéo kim loại có kích thước dài 11,5cm; 01 bình gas
2
mini ghi dòng chữ “BUTANE GAS”; 01 khò gas mini cầm tay ghi dòng chữ “FLAME GUN”; 01 quẹt gas nhãn hiệu HOA VIỆT, màu trắng - hồng; 01 quẹt gas không nhãn mác, màu vàng; 01 chai nhựa không nhãn mác gắn nắp nhựa màu vàng, bên trên nắp nhựa có đục hai lỗ gắn một đoạn ống hút nhựa màu vàng, trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng, trắng.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: Luvias, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 93P1-128.84, số máy: 44S1-027019, số khung: L44S10BY027017.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Vario 125, màu sơn xanh đen, số máy: JMD1E1370539, số khung: MH1JMD113PK370486, biển kiểm soát: 93C1-460.71; 01 điện thoại di động màu xanh, màn hình cảm ứng nhãn hiệu ViVo 155, có số Sêri 10AC4K0WAP000L3, bên trong có 02 sim điện thoại 0988.385.xxx và 0346780070; 01 điện thoại di động màu đen, màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, có số Sêri R58T42DTY9N, bên trong không có sim điện thoại.
- 01 điện thoại di động màu xanh, màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, có số Sêri R58N30LEGCT, bên trong có sim điện thoại 0365.204.xxx.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói ma túy (ký hiệu M1) đã được sử dụng hết trong quá trình giám định, nên không xét đến.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát: 93P1-128.84 qua điều tra xác định đây là tài sản do bà Bùi Thị L ( Chị ruột N ) là chủ sở hữu. Vào khoảng đầu tháng 5/2024, N đến nhà bà L chơi và mượn xe trên để đi lại. Đến ngày 25/5/2024, N sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy thì bà L không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe môtô trên cho bà L.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát: 93C1-460.71; 01 điện thoại di động màu xanh, màn hình cảm ứng nhãn hiệu ViVo 155 bên trong có 02 sim điện thoại 0988.385.xxx và 0346780070; 01 điện thoại di động màu đen, màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, bên trong không có sim điện thoại. Những đồ vật, tài sản trên của Bùi Văn N, N không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại những đồ vật trên cho N thông qua người được N ủy quyền là ông Bùi Thanh T1 ( Anh ruột N), sinh năm: 1992, ngụ tại tổ F, khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước nên không đề cập tới
- 01 điện thoại di động màu xanh, màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, bên trong có sim điện thoại 0365.204.xxx do Nguyễn Dương Tố M, là chủ sở hữu, không phải là vật chứng vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho Nguyễn Dương Tố M nên Viện kiểm sát không đề cập tới.
Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.
3
Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKSHQ ngày 06/9/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo Bùi Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các Điều 249, 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố bảo vệ quan điểm của bản cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Bùi Văn N1 phạm tội “Tàng trử trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các Điều 249, 255 của Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Áp dụng điểm khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, buộc bị cáo Bùi Văn N phải chịu hình phạt của 02 (hai) tội là từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù.
- Đề nghị xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ mang đi giám định không còn nên đề nghị không tiếp tục xử lý.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn N mức hình phạt từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn N mức án từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy:
- 01 nỏ thủy tinh có kích thước dài 7,5cm, một đầu của nỏ thủy tinh được uốn cong hình bầu tròn, 01 kéo kim loại có kích thước dài 11,5cm; 01 bình gas mini ghi dòng chữ “BUTANE GAS”; 01 khò gas mini cầm tay ghi dòng chữ “FLAME GUN”; 01 quẹt gas nhãn hiệu HOA VIỆT, màu trắng - hồng; 01 quẹt gas không nhãn mác, màu vàng; 01 chai nhựa không nhãn mác gắn nắp nhựa màu vàng, bên trên nắp nhựa có đục hai lỗ gắn một đoạn ống hút nhựa màu vàng, trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng, trắng.
Các vật chứng khác đã được xử lý xong nên đề nghị không tiếp tục xử lý.
Trách nhiệm dân sự: Không xảy ra.
Bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến, khiếu nại gì nên hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, lời khai nhận của bị cáo Bùi Văn N, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa, nội dung tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 25/5/2024, Bùi Văn N đã có hành vi cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy, địa điểm và ma túy cho Nguyễn Dương Tố M sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời Bùi Văn N còn có hành vi cất giấu trái phép 01 gói ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,1730 gam nhằm mục đích sử dụng dần. Do đó hành vi trên của Bùi Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, đồng thời là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người đã thành niên và hoàn toàn nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân và bạn bè nên cần áp dụng một hình phạt nghiên khắc đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội sau này.
Đối với người thanh niên (không rõ nhân thân) đã bán cho N 01 gói ma túy để về sử dụng, quá trình điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào làm rõ được sẽ xem xét xử lý sau theo quy định.
Đối với Nguyễn Dương Tố M là người được N cho hút ma túy, căn cứ tài liệu thu thập được xác định M chỉ là người được N cho sử dụng ma túy, M
5
không góp tiền mua ma túy cùng với N, do vậy hành vi của M không cấu thành tội phạm. Ngày 20/08/2024 Công an huyện H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M số tiền 1.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định.
[4] Về trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 04/11/2020, Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 112/HSST, chấp hành xong án phạt tù vào tháng 12/2021; Ngày 12/07/2022, Công an huyện H, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 400.000đ về hành vi gây rối trật tự công cộng, ngày 28/07/2022 N đã nộp tiền phạt trên.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khân khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét.
[5] Xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ; phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn N phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- Về vật chứng vụ án:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Văn N mức hình phạt 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Văn N mức án 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, buộc bị cáo Bùi Văn N phải chịu hình phạt chung của hai tội là 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam, ngày 25/5/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Số ma túy thu giữ mang đi giám định không còn nên không tiếp tục xử lý.
- Tịch thu, tiêu hủy:
01 nỏ thủy tinh có kích thước dài 7,5cm, một đầu của nỏ thủy tinh được uốn cong hình bầu tròn, 01 kéo kim loại có kích thước dài 11,5cm; 01 bình gas mini ghi dòng chữ “BUTANE GAS”; 01 khò gas mini cầm tay ghi dòng chữ “FLAME GUN”; 01 quẹt gas nhãn hiệu HOA VIỆT, màu trắng - hồng; 01 quẹt gas không nhãn mác, màu vàng; 01 chai nhựa không nhãn mác gắn nắp nhựa màu vàng, bên trên nắp nhựa có đục hai lỗ gắn một đoạn ống hút nhựa màu vàng, trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng, trắng.
02 bao thu đã niêm phong hoàn lại sau giám định vụ số 530/2024.
Các vật chứng khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.
(Vật chứng được mô tả và đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0006022 ngày 20/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự và Thi hành án hình sự huyện Hớn Quản).
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Bùi Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm./.
6
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Học |
7
8
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
