Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/DS-ST.

Ngày: 24-9-2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay có

cầm cố tài sản, hợp đồng mượn tài sản”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hoàng Liên
  2. Bà Bùi Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 398/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay có cầm cố tài sản, mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 111/2024/QĐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S1 tiền có ngay

Đại diện theo pháp luật: Ông Kanokwatpaisal napat – Chức vụ: Giám đốc

Địa chỉ trụ sở: 128 nguyễn D, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S – Chức vụ: Nhân viên.

Địa chỉ liên lạc: B L, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1978

Địa chỉ: Khu phố C, phường V, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận.

Ông Nguyễn Văn S có mặt, bà Nguyễn Thị Ngọc D vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn S trình bày:

Công ty TNHH S2 nay là Công ty Cổ phần S1 có ngay (gọi tắt là Công ty) có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần do Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần thứ 7, ngày 27/3/2024 và có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh do Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần thứ 3, ngày 14/4/2024. Công ty hoạt động nhiều lĩnh vực, trong đó có cầm cố tài sản.

Ngày 15/6/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc D có ký hợp đồng cầm cố số P2M210601021NA20X với Công ty. Theo đó, bà D cầm cố xe máy HonDa biển số 85B1-823.63 để vay số tiền là 25.500.000 đồng. Thời hạn cầm cố 12 tháng, số tiền cam kết thanh toán mỗi tháng là 2.975.219,97 đồng trả vào hàng tháng ngày 15; Lãi suất cầm cố là 1.1%/tháng. Lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Phí thẩm định tài sản là 4,5%/ tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền.

Do nhu cầu đi lại, phục vụ công việc, ngày 15/6/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc D đã ký kết với Công ty X mượn lại chiếc xe trên để phục vụ đi lại thời hạn 01 tháng. Theo đó, bà D phải thanh toán phí mượn xe. Tuy nhiên đến nay bà D vẫn chưa thực hiện trả lại xe cho Công ty theo thỏa thuận. Hiện nay Công ty chỉ còn giữ giấy chứng nhận đăng ký xe bản gốc của bà D.

Công ty đã giải ngân cho bà D số tiền là: 25.500.000 đồng vào ngày 15/6/2021. Bà D không thanh toán cho Công ty khoản tiền nào.

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu tòa án giải quyết:

- Yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc D phải giao trả lại chiếc xe hiệu HonDa mang biển số 85B1-823.63, số khung: RLHJF6338LZ504565, số máy: JF94E0119365 đã cầm cố mà bà D mượn lại của Công ty CP S1 Có Ngay. Trường hợp bà Nguyễn Thị Ngọc D không thể trả lại xe cầm cố thì phải có nghĩa vụ thanh toán cả gốc lẫn lãi tới thời điểm hiện tại thông qua hợp đồng cầm cố tài sản và các loại phí đã thỏa thuận.

Tại phiên hòa giải ngày 07/8/2024, Công ty yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc D phải trả các khoản tiền sau: Tiền gốc: 25.500.000 đồng. Tiền lãi trong hạn: 2.004.090 đồng. Tiền lãi quá hạn: 18.674.266 đồng; phí thẩm định tài sản 8.198.550 đồng. Tổng số tiền Công ty yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc D thanh toán tạm tính đến ngày 07/8/2024 là 54.377.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đối với các loại phí, không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết đối với tài sản sản cầm cố, hiện Công ty đã cho bà D mượn lại tài sản cầm cố; Tính đến ngày 24/9/2024, Công ty yêu cầu bà D phải thanh toán tiền gốc là 25.500.000 đồng. Tiền lãi trong hạn: 2.004.090 đồng. Tiền lãi quá hạn: 13.736.388 đồng. Tổng cộng: 41.240.478 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/9/2024), bà D còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh đối với khoản nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ.

Sau khi bà D thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty S1 sẽ trả lại bà D bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 005001 do Phòng C công an tỉnh N cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc D ngày 11/6/2021 và thực hiện thủ tục xóa đăng ký tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà D. Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/3/2024, bà Nguyễn Thị Ngọc D thừa nhận việc ký kết hợp đồng cầm cố và mượn lại xe Honda biển số 85B1-823.63 để vay số tiền 25.500.000 đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên chưa trả tiền cho Công ty theo đúng thỏa thuận và xin thời gian để thương lượng với Công ty về phương án trả nợ. Sau đó, bà D không đến Tòa án làm việc theo thông báo của Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ Luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS). Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật là có cơ sở.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Công ty Cổ phần S1 Có Ngay yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D thanh toán số tiền còn nợ, tiền lãi theo hợp đồng cầm cố tài sản và trả lại tài sản; Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản; hợp đồng mượn tài sản” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

[1.2] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ cho bà D. Bà D không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự theo quy định của pháp luật nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án. Bà D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

[1.3] Về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện:

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đối với các yêu cầu: Công ty Cổ phần S1 có ngay chỉ yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D phải trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn; không buộc bà D phải giao trả lại chiếc xe hiệu Honda mang biển số 85B1-823.63; không buộc bà D trả phí thẩm định tài sản. Xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về tính hợp pháp của hợp đồng:

Ngày 15/6/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc D và Công ty có ký hợp đồng cầm cố tài sản số P2M210601021NA20X. Thông qua Hợp đồng, Công ty cổ phần S1 Có Ngay

đã giải ngân cho bà D số tiền: 25.500.000 đồng và Công ty nhận bảo đảm khoản tiền vay đã giải ngân thông qua việc cầm cố xe hiệu Honda mang biển số 85B1-823.63, số khung: RLHJF6338LZ504565, số máy: JF94E0119365 do bà D đứng tên chủ sở hữu. Đồng thời, bà D có ký giấy mượn lại chiếc xe nêu trên và được phía Công ty chấp nhận.

Xét thấy, Hợp đồng cầm cố và mượn xe được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay bị ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 309, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.2] Về nội dung hợp đồng cầm cố và yêu cầu đòi nợ gốc:

Công ty Cổ phần S1 Có Ngay có đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ; tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định “Kinh doanh dịch vụ cầm đồ, gồm: Kinh doanh dịch vụ cho vay tiền mà người vay tiền phải có tài sản hợp pháp mang đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ để cầm cố”.

Điều 309 của Bộ luật Dân sự quy định “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây là gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.

Công ty S1 và bà D giao kết hợp đồng cầm cố tài sản để nhận số tiền cầm cố: 25.500.000 đồng và phụ lục hợp đồng cầm cố (kèm theo hợp đồng), thể hiện bà D là người cầm cố tài sản chiếc xe máy để vay tiền tại Công ty.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: mặc dù hình thức của hợp đồng số P2M210601021NA20X là hợp đồng cầm cố tài sản nhưng nội dung của hợp đồng là thỏa thuận về việc Công ty S1 cho bà D vay số tiền 25.500.000 đồng và việc bà D cầm cố chiếc xe Honda mang biển số 85B1-823.63 cho Công ty S1 thông qua hợp đồng này là phương thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nợ đã vay; Nội dung hợp đồng có thỏa thuận về mức lãi suất 1,1%/ tháng, phí chậm trả tương ứng 150% lãi suất quy định và các loại phí khác, các khoản thu này được tính theo mức %/tháng/dư nợ thực tế; cho thấy, công ty S1 đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để tính lãi, phí và phạt hợp đồng nhằm mục thu lãi từ việc cho vay và việc bà D cầm cố xe máy để nhận tiền và viết giấy mượn lại xe để dùng làm phương tiện đi lại thực chất là vay tiền có tính lãi. Vì vậy, có cơ sở xác định mục đích và nội dung hợp đồng được ký kết giữa các bên là: Hợp đồng vay có cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản.

Công ty S1 đã giải ngân đủ số tiền cho bà Nguyễn Thị Ngọc D theo Hợp đồng số P2M210601021NA20X ngày 15/6/2021. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà D không thanh toán cho Công ty theo thỏa thuận phí nên đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền

theo quy định tại Điều 280 và Điều 311 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Công ty khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc D có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc 25.500.000 đồng là phù hợp nên chấp nhận.

[2.3] Về yêu cầu tính lãi, mức lãi suất trong hạn 1,1%/tháng; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là 1,65%/tháng. Cụ thể tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 24/9/2024, tiền lãi trong hạn còn thiếu: 2.004.090 đồng. Tiền lãi quá hạn: 13.736.478 đồng. Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ và khoản 2 Điều 5 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Yêu cầu này của Công ty là phù hợp, nên bà D phải có nghĩa vụ trả số tiền lãi còn thiếu cho Công ty.

[2.4] Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu của nguyên đơn, quy định của pháp luật, buộc bà Nguyễn Thị Ngọc D trả tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 24/9/2024 theo yêu cầu của Công ty là: tiền vốn gốc: 25.500.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 2.004.090 đồng. Tiền lãi quá hạn: 13.736.478 đồng. Tổng cộng: 41.240.568 đồng.

[2.5] Đối với việc xử lý tài sản cầm cố là chiếc xe máy, đã cho bị đơn mượn lại để sử dụng; Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Công ty trình bày Công ty không có yêu cầu xử lý tài sản cầm cố, chỉ yêu cầu bà D trả số tiền còn thiếu như trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do bà Nguyễn Thị Ngọc D phải trả cho Công ty số tiền 41.240.568 đồng nên phải chịu án phí là 41.240.568 đồng x 5% = 2.062.000 đồng (làm tròn số).

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 244, 266, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 117, Điều 280, Điều 309, Điều 311, Điều 312, Điều 314, Điều 315, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S1 Có Ngay.

    Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc D phải có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần S1 Có Ngay tổng số tiền tính đến ngày 24/9/2024 là 41.240.568 đồng (trong đó nợ gốc 25.500.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 2.004.090 đồng; lãi quá hạn 13.736.478 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm; bà Nguyễn Thị Ngọc D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh đối với khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

    Ngay sau khi bà Nguyễn Thị Ngọc D thanh toán hết nợ, Công ty Cổ phần S1 Có Ngay có nghĩa vụ trả lại bản chính giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005001 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 11/6/2021 cho bà Nguyễn Thị Ngọc D.

    Về xử lý tài sản cầm cố: Công ty Cổ phần S1 có ngay không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

  2. Về án phí:

    Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu: 2.062.000 đồng (Hai triệu không trăm sáu mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Công ty Cổ phần S1 Có Ngay không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại số tiền 1.684.000 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000517 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP. PR - TC;
  • - Chi cục THADS Tp. PR-TC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (HS, AV).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản, hợp đồng mượn tài sản

  • Số bản án: 85/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản, hợp đồng mượn tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger