|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 85/2024/HS-ST. Ngày 23 tháng 9 năm 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tâm.
Ông Nguyễn Hồng Phương.
Ông Nguyễn Đức Kha.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Đình Đức- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Thân Văn Nhất - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2022/TLST-HS ngày 01/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Chung H, sinh năm 1974; tên gọi khác: Trần Trung H1, Trần Văn H2. Nơi đăng ký thường trú: thôn P- P, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn phổ thông: 12/12; con ông Trần Định L, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Bùi Thị T, sinh năm 1949 (đã chết); gia đình có 06 anh em, bị cáo là thứ nhất; vợ: Hà Thị K, sinh năm 1979 (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014; tiền sự: không.
Tiền án: tại bản án hình sự số 12/2016/HSST ngày 25/01/2016, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 (S) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo H2: Ông Trần Văn A và ông Trần Văn H3- Luật sư thuộc Văn phòng L4, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ Văn phòng luật sư: Số E, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Luật sư A có mặt, Luật sư H3 vắng mặt).
* Bị hại:
- Ông Trần Đình L1, sinh năm 1945 – là bố đẻ bị cáo (Đã chết); địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bà Bùi Thị T, sinh năm 1949 – là mẹ đẻ bị cáo (Đã chết); địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Trần Thị T1, sinh năm 1976 – là em gái bị cáo (Đã chết); địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Đại diện hợp pháp của bị hại:
- Chị Trần Thị H4, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Chị Trần Thị H5, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Chị Trần Thị V, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Anh Trần Nguyên H6, sinh năm 1985; HKTT: Tổ dân phố số C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
Chị Trần Thị H4, chị Trần Thị H5, chị Trần Thị V ủy quyền cho anh Trần Nguyên H6 tham gia tố tụng giải quyết vụ án (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Văn T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm C thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
* Người làm chứng:
- Cháu Trần Quang M, sinh ngày 07/12/2014; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang ( vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho cháu M:
- Anh Trần Nguyên H6, sinh năm 1985; HKTT: Tổ dân phố số C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh ( có mặt).
Chỗ ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Ông Hà Văn M1- Bí thư Đoàn thanh niên xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Cháu Nguyễn Khuê L2, sinh ngày 28/11/2009; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của cháu L2: Bà Trần Thị T3, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Cháu Trịnh Thị T4, sinh năm 2009; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của cháu T4: Bà Nguyễn Thị H7, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L- Bắc Giang (vắng mặt).
- Bà Phan Thị T5, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Ông Vũ Văn N, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Bà Trần Thị L3, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Bà Hà Thị H8, sinh năm 1947; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Ông Vũ Văn D, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Bà Hà Thị H8, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Ông Trần Văn T7, sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Mai Văn T8, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm C, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Chung H kết hôn với chị Hà Thị K vào năm 2013 và có 02 con chung là Trần Cát T9 và Trần Quang M. Năm 2015, H có hành vi gây thương tích cho chị K nên bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Trong thời gian đang chấp hành án giữa H và chị K ly hôn. Cháu M được ông Trần Định L và bà Bùi Thị T (là bố, mẹ đẻ của H) đón về chăm nuôi tại gia đình.
Ngày 13/10/2021, H chấp hành án xong trở về địa phương sinh sống cùng gia đình ông L, bà T, chị T1 và cháu M (trong đó chị T1 là người bị khuyết tật nặng, có quyết định của UBND huyện L về việc được hưởng trợ cấp hàng tháng). H được những người trong gia đình cho biết cháu M là con đẻ của H với chị K và yêu cầu H phải thừa nhận, tuy nhiên H cho rằng cháu M không phải là người con trai của mình với chị K nên không thừa nhận dẫn đến bực tức, mâu thuẫn với mọi người trong gia đình.
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 22/10/2021, sau khi mọi người thức dậy, cháu M đi học; ông Trần Định L điều khiển xe máy biển kiểm soát 98H5-2868 đi giải quyết công việc cá nhân; bà Bùi Thị T đi làm đồng, còn H và chị Trần Thị T1 ở nhà. Trong lúc chị T1 dọn dẹp, quét sân trước cửa nhà chính, H ở trong nhà ngang uống rượu rồi đi ra cửa thì chị T1 nói với H: “Phải nhận thằng M là con, nếu không sẽ bảo bố báo Công an bắt mày đi tù”. Nghe vậy, H tức giận đi vào trong nhà ngang lấy một con dao (loại dao rựa dùng để băm, chặt) có cán và lưỡi đều bằng kim loại, phần cán dài 10cm, phần lưỡi dài 32cm, H cầm dao tay phải chạy đến đứng đối diện, cách chị T1 khoảng 01m, chém một nhát trúng vào phía sau gáy chị T1 làm chị T1 ngã nằm xuống đất. H tiếp tục cầm dao chém liên tiếp nhiều nhát vào phần đầu, cổ chị T1 khiến chị T1 chết tại chỗ. Sau đó, H đi vào trong nhà ngang tiếp tục uống rượu.
Vài phút sau, H nghe thấy giọng bà T ở ngoài cổng gọi chị T1 ra mở khóa cổng cho bà T vào, H cầm dao đi ra cổng thì gặp bà T đã bước vào. H nói cho bà T biết việc H vừa chém chết chị T1, bà T tức giận, cầm chiếc cuốc làm đồng đánh H. H dùng tay trái gạt chiếc cuốc văng ra, tay phải cầm dao chém một nhát trúng vào cổ bà T khiến bà T ngã nằm xuống đất. H tiếp tục cầm dao chém nhiều nhát vào vùng đầu, cổ, tay phải của bà T làm bà T chết tại chỗ. Sau đó H lấy các bao dứa đựng đồ ở khu vực xung quanh che, đậy lên người bà T, đồng thời lấy các bó cây thuốc và chiếc nia đựng lá thuốc che, đậy lên người chị T1 để tránh người đi qua cổng phát hiện.
Sau đó H tiếp tục vào trong nhà ngang uống rượu. Đến khoảng hơn 11 giờ cùng ngày, phát hiện cháu M đi học về chuẩn bị bước vào cổng nhà nên H đi đến cổng và bảo cháu M “Cháu không phải là con của bác, cháu về nhà đi”. Đồng thời, H cầm chìa khóa ra khóa cổng lại, để cháu M ở ngoài chơi một mình.
Khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, ông L một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98H5-2868 về đỗ tại cổng nhà, thấy cổng đang khóa và được cháu M nói cho biết việc H không cho vào nhà, ông L và cháu M đi bộ qua vườn nhà bà Hà Thị H8, sinh năm 1947, là hàng xóm bên cạnh nhà ông L. Cả hai đi theo lối lên đồi phía sau gian nhà chính và nhà ngang của gia đình ông L để đi về nhà. Khi ông L đi trước bước vào đứng tại bậc thềm hiên nhà chính, còn cháu M đi sau và đứng tại vị trí lối vào nhà, cháu M thấy H và ông L cãi nhau nên dừng lại. Tại đây, H cầm dao đi đến gần ông L và thông báo về việc bản thân đã chém chết chị T1 và bà T. Ngay sau đó, H lao vào cầm dao trên tay phải chém một nhát trúng vào cổ ông L làm ông L loạng choạng lao xuống sân, ngã nằm cạnh xác chị T1. H tiến đến tiếp tục chém liên tiếp vào đầu, cổ của ông L nhiều nhát đến khi ông L chết tại chỗ thì H dừng lại, đi ra bể nước ngồi rửa dao.
Tại thời điểm H dùng dao chém ông L, cháu M chứng kiến sự việc nên sợ hãi chạy ngược lại nhà bà H8 và gặp cháu Nguyễn Khuê L2, sinh năm 2009 ở với gia đình bà H8 và bạn học của cháu L2 là cháu Trịnh Thị T4, sinh năm 2009, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cháu M nói về việc ông L bị H chém chết nên cháu L2 và cháu T4 chạy bộ sang nhà ông L để xem sự việc. Cháu T4 và L2 chạy bộ rồi đứng tại vị trí lối đi vào sân nhà ông L thì nhìn thấy ông L nằm ở sân, xung quanh nhiều máu chảy, nhìn thấy H đang rửa dao ở bể nước. Do chưa biết sự việc thế nào nên cháu T4 và cháu L2 có chào hỏi H, thấy H bước đến nên hai cháu sợ hãi bỏ chạy về nhà cháu L2.
Do sự việc bị phát hiện, H lấy chìa khóa xe máy trong túi áo ông L đang mặc rồi vào nhà ngang mặc thêm quần áo và giấu con dao gây án tại vị trí dưới khu đất trồng cây thuốc gần cổng, sau đó lấy xe máy của gia đình (biển kiểm soát 98H5-2868) bỏ trốn đến địa bàn thành phố Hà Nội, sau đó tìm đường đến nhà những người quen tại tỉnh Ninh Bình. Cụ thể: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23/11/2021, H đến nhà anh Mai Văn T8, sinh năm 1985, địa chỉ tại xóm C, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình do quen biết với bố mẹ đẻ của anh T8 từ trước. H xin vào nhà ăn cơm và ngủ nhờ nhưng anh T8 không đồng ý nên H tiếp tục điều khiển xe bỏ trốn. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, H đến gặp anh Phạm Văn T2, sinh năm 1986, trú tại thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là người quen biết từ trước, H vay anh T2 số tiền 300.000 đồng. Sau khi vay được tiền, H tiếp tục điều khiển xe về địa bàn thành phố Hà Nội, rồi điều khiển xe chạy trốn về phía tỉnh Lào Cai thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ vào ngày 24/10/2021 tại chốt kiểm dịch Covid 19, thuộc Bản B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quá trình gặp, tiếp xúc với anh T8 và anh T2, H không nói cho anh T8 và anh T2 biết về hành vi phạm tội của mình.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra vụ án tại nhà ở của gia đình ông Trần Định L. Phía Bắc tiếp giáp khu đất ở của gia đình ông V1; phía Nam tiếp giáp khu đất của gia đình ông N; phía Đông tiếp giáp khu đất của gia đình anh T10.
Nhà ở gia đình ông L thấy, nhà cấp 4 có ba gian, lợp mái ngói, kích thước (9,75x4,95)m; cửa chính hướng Đông dạng 2 cánh gỗ, hiện trạng khóa. Trước cửa nhà là sân được lát gạch men màu đỏ, kích thước (10,2x5,6)m. Mặt phía Bắc sân là dãy nhà ngang, bếp có cửa hướng Nam, trong trạng thái đóng hờ, góc sân phía Đông Bắc là đường bê tông lối ra cổng chính, kích thước (3,15x26x2)m. Phía Nam sân là nhà kho chứa thuốc (cây thuốc), cửa chính hướng Bắc, trong trạng thái khóa, tiếp đến là bể nước và nhà vệ sinh.
Xem xét đường bê tông lối vào sân thấy tại vị trí cạnh góc bếp phía Đông Nam 2,45m, phát hiện tử thi Bùi Thị T trong trạng thái nằm sấp, phía trên đậy các bao tơ rứa và bao xi măng, bên trong đựng các lọ nhựa đậy xung quanh tử thi. Lật bỏ các bao xi măng, tơ dứa thấy đầu tử thi hướng Đông Nam, hai chân hướng T, giữa hai chân cách mép bếp về phía T là 2,45m, cách mép sân 8,4m, chân trái co ngang bụng, chân phải co hờ; tay trái co dưới ngực, tay phải co trước mặt. Trên đầu tử thi đội nón lá, mặt ngoài có 02 vết rách, thủng, cách mép bếp về phía T 3,8m.
Xem xét nền bê tông xung quanh đầu tử thi phát hiện dấu vết máu dạng bắn, trên diện (2,85x1,6)m và dấu vết máu dạng loang, vũng trên diện (5,4x0,76)m.
Trên sân gạch trước cửa nhà phát hiện tử thi Trần Định L, phía trên đậy 01 chiếu nhựa hoa văn màu xanh- đỏ- vàng và 01 nia đựng vỏ cây, quả đã khô, đường kính nia là 0,8m, bề mặt bám dính máu dạng bắn, loang. Lật chiếu lên thấy tử thi trong trạng thái nằm ngửa, hai tay co, 2 chân duỗi, đỉnh đầu hướng Đông Bắc, hai chân hướng T, cách mép cửa nhà ở 5,6m (đỉnh đầu cách mép cửa nhà 5,9m), xung quanh tử thi có các bó cây gồm cây tía tô và một số loại cây khác. Lật các bó cây trên nền sân kiểm tra thấy: 01 tử thi nữ giới trong trạng thái nằm sấp, tay phải co trước ngực, mặt, tay trái ép dưới ngực, đỉnh đầu hướng Đông Nam, cách mép cửa nhà 7,65m, hai chân co hờ, giữa hai chân cách mép cửa nhà ở 6,25m, xung quanh vị trí 02 tử thi phát hiện dấu vết máu dạng bắn từ vị trí đầu tử thi ra xung quanh, kích thước (4,4x4,38)m và diện dấu vết máu loang, vũng kích thước (4,12x1,03)m.
Trên nền sân gạch trước cửa nhà kho chứa thuốc, trên nền bê tông bể nước phát hiện rải rác dấu vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt, kiểm tra van nước trên mặt phía Tây bể nước phát hiện dấu vết màu nâu đỏ nghi máu dạng loang, kích thước (5,5x1,5)cm.
Xem xét trên vườn cây tại vị trí cách mép bờ sân phía Đông Nam 0,8m phát hiện 01 chiếc cuốc, cán bằng tre dài 107,5cm, đường kính trung bình 3,5cm, có phần lưỡi kim loại dài 20,5cm, rộng 16,2cm, trên cán phát hiện rải rác dấu vết màu nâu đỏ nghi máu và dấu vết cắt chặt kích thước (3,5x0,2)cm, tâm vết cách đầu cán cuốc 11,7cm.
Xem xét nhà bếp ở gốc sân phía Bắc thấy có 02 gian được lợp ngói, diện tích (7x4,5)m, phía trong có nhiều đồ đạc vật dụng, không phát hiện dấu vết nghi vấn.
Xem xét nhà ngang giáp mặt sân phía Bắc thấy nhà cấp 4 có hai gian, được lợp ngói, diện tích (11,5x4,8)m, có 2 cửa hướng Nam dạng 02 cánh gỗ mở vào trong. Gian phía Đông Bắc, sát mép tường phía Nam, cách cửa ra vào 0,5m phát hiện 01 con dao kim loại (dạng dao chặt) trong trạng thái dựng sát tường, phần chuôi hướng lên trên, dài 40,4cm, bản rộng 5,7cm, phần lưỡi dài 30cm, chuôi dài 10,4cm, bề mặt bám dính chất màu trắng (tổ chức mô). Ngoài ra, xem xét trên kệ ghế và dưới gầm bàn phát hiện 02 con dao gồm 01 dao bản to và 01 con dao chặt và 01 con dao quắm.
Mở rộng hiện trường xem xét nhà ngang thấy trên giường gỗ đôi vị trí cách cửa ra vào 1,1m thấy có 01 con dao dạng dao chặt và trên tường đầu hồi phía Đông Bắc gian nhà ngang chứa thuốc có gắn 01 camera. Trên hiên nhà chính vị trí sát nhà ngang có 01 lối đi ra sau vườn rộng 58cm. Xem xét trong nhà và xung quanh vườn không phát hiện dấu vết nghi vấn.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ các mẫu máu, 01 chiếc cuốc và 06 con dao phát hiện khi khám nghiệm hiện trường và 01 đầu ghi Camera an ninh tại gia đình ông Trần Định L (bút lục 103-106, 115, 120-133, 162).
Ngoài ra, căn cứ vào lời khai của bị can Trần Chung H, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm và phát hiện, thu giữ 01 con dao H khai sử dụng làm hung khí gây án tại vườn phía bên phải nhìn từ cổng nhà ông L, cách cổng 7,4m, cách sân nhà 0,8m (bút lục 224-237).
2. Khám nghiệm tử thi
a) Tử thi Bùi Thị T:
Kiểm tra quần áo tử thi mặc thấy: Mặt sau áo len và áo thu đông tại vị trí ống tay áo phải, cách đường chỉ áo phía trong 03cm, cách gấu áo 16cm có vết rách thủng vải kích thước (03x0,6)cm, quần áo bám dính chất màu nâu đỏ và tổ chức cơ thể.
Trên nón là màu vàng tử thi đội, cách đỉnh chóp 13cm có vết rách, thủng nón, kích thước (25x0,2)cm, cách vết này 3,2cm là vết rách thủng II kích thước (18x0,2)cm, cách vết II là vết III kích thước (18x0,2)cm. Trên cổ tử thi quấn 01 khăn len màu trắng, xanh đỏ, tại vị trí chính giữa có nhiều vết rách, thủng len (tương ứng vùng chẩm hai bên) kích thước khăn (152x16)cm, kích thước rách thủng (32x18)cm.
Vùng đầu tóc đen để dài có điểm bạc, lỗ tai trái khô, lỗ tai phải có máu đông, hai lỗ mũi và khoang miệng có dịch màu nâu đỏ, hai mắt khép, đồng tử hai bên dãn to. Vùng gò má trái có diện sây sát da kích thước (05x04)cm; Vùng cổ hai bên có diện sây sát da nông, trên diện (16x15)cm.
Mặt sau khuỷu tay phải có vết thương rách da sâu sát xương, bờ mép gọn, kích thước (5,5x02)cm làm đứt đầu trên xương trụ; Mặt trong 1/3 giữa cẳng tay phải có vết thương rách da bờ mép gọn, sâu đến tổ chức dưới da, kích thước (5,5x1,6)cm; mặt trước cổ tay phải có vết thương rách da, bờ mép gọn, kích thước (2,2x0,4)cm sâu đến lớp cơ. Mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái có diện chợt da nông mất lớp thượng bì, kích thước (07x03)cm. Vùng quanh rốn có diện chợt da, kích thước (16x11)cm.
Vùng chẩm hai bên và má phải có vết thương rách da, sâu thấu trong, bờ mép gọn, kích thước (21x09)cm, phía trên vết này 01cm có vết thương rách da bờ mép gọn, sâu sát xương, kích thước (06x0,7)cm, đầu bên phải thông với vết trước.
Giải phẫu tử thi: Kiểm tra tổn thương vùng chẩm thấy sập, vỡ phức tạp xương chẩm hai bên, thấu vào tổ chức não làm tổ chức não dập nát, thoát ra bên ngoài. Dạ dày màu trắng đục, bên trong còn thức ăn phân biệt rõ hạt cơm.
Cơ quan điều tra đã thu mẫu máu, móng tay, 02 áo dài tay, nón lá đội đầu và khăn của nạn nhân (bút lục 113-114, 149-160).
b) Tử thi Trần Định L:
Vùng đầu tóc cắt ngắn, có điểm bạc, hai lỗ tai khô, hai lỗ mũi và khoang miệng có máu khô.
Vùng trán có 04 vết rách da bờ mép gọn, hướng trước ra sau lần lượt là: Vết I cách đường giữa tại vị trí vùng trán phải 1,8cm, kích thước (5,3x0,8)cm, sâu sát xương; Vết II cách vết I là 01cm, kích thước (4,6x0,7)cm, sâu sát xương; Vết III cách vết II là 1,7cm, kích thước (5,1x0,6)cm, sâu sát xương; Vết IV cách vết III là 2,1cm, sát đường giữa tại vị trí vùng trán trái, kích thước (06x1,4)cm, sâu sát xương làm đứt một phần xương trán trái (rạn, đứt, lõm xương).
Cung mày trái có vết rách da, bờ mép gọn, kích thước (6,3x0,6)cm, còn tổ chức liên kết giữa hai bờ vết thương, sâu tới xương làm vỡ nứt xương trần hốc mắt trái. Vùng má, cằm, dái tai trái có 03 vết rách da bờ mép gọn, kích thước lần lượt từ trên xuống dưới là: Vết I, kích thước (15x1,8)cm, sâu sát xương hàm; Vết II cách vết I là 0,2cm, kích thước (07x0,8)cm, sâu đến tổ chức dưới da; Vết III cách vết II là 01cm, kích thước (02x0,5)cm, sâu đến tổ chức dưới da.
Vùng cổ trước có 03 vết thương rách da, hướng từ trước ra sau: Vết I kích thước (12x02)cm, sâu sát xương; Vết II cách vết I là 0,2cm, kích thước (3,8x01)cm, sâu tới lớp cơ; Vết III cách vết II là 03cm tại vị trí cổ phải, kích thước (03x01)cm, sâu tới lớp cơ, dưới vết này 1,4cm có 05 vết rách da kích thước (10x0,2)cm; (3,5x0,2)cm; (02x0,1)cm; (05x0,5)cm; (0,8x0,5)cm, diện bầm tím da kích thước (15x09)cm.
Vùng cổ phải có 02 vết thương rách da bờ mép gọn: Vết I cách dái tai phải 1,5cm, kích thước (12x1,8)cm sâu tới lớp cơ; Vết II cách vết I là 1,2cm, kích thước (05x0,3)cm, sâu tới tổ chức dưới da.
Vùng chẩm trái cách đường giữa 1,5cm có vết thương rách da, bờ mép gọn, làm mẻ xương hộp sọ vùng chẩm trái, kích thước (09x1,8)cm.
Mặt gan đốt I ngón I và mặt gan đốt I ngón II tay trái có vết rách da bờ mép gọn, sâu sát xương, kích thước (07x4,6)cm.
Giải phẫu: Kiểm tra vết thương rách da vùng cổ (vết I) thấy bầm dập tổ chức dưới da, cơ; đứt hoàn toàn thực quản, khí quản, động, tĩnh mạch cảnh trái.
Dạ dày màu trắng đục, bên trong chứa thức ăn đang tiêu hóa, còn phân biệt rõ hạt cơm, rau.
Cơ quan điều tra đã thu mẫu máu, móng tay, áo vét, áo len và quần của nạn nhân (bút lục 107-110, 134-142).
c) Tử thi Trần Thị T1:
Vùng đầu tóc đen để dài, hai mắt khép không kín, hai lỗ tai khô, hai lỗ mũi có máu chảy từ trong ra.
Vùng má phải sát dái tai phải có vết thương rách da, bờ mép gọn, kích thước (07x01)cm hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, sâu tới xương, làm đứt một phần xương gò má phải.
Vùng cổ phải và cổ sau có 05 vết thương rách ra, bờ mép gọn, hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái lần lượt là: Vết I cách dái tai phải 04cm, cách đường giữa 03cm, kích thước (10x01)cm, sâu tới xương; Vết II cách vết I là 0,7cm, kích thước (08x01)cm, sâu tới xương; Vết III cách vết II là 01 cm, kích thước (06x,1,2)cm, sâu tới lớp cơ; Vết IV cách vết III là 0,8cm, kích thước (4,5x1,2)cm, sâu tới xương làm đứt bờ dưới tổ chức da, dưới da; Vết V cách vết IV là 0,2cm, kích thước (09x05)cm, sâu tới xương.
Giải phẫu: Kiểm tra vết thương rách da vùng cổ (vết V) thấy: Bầm dập tổ chức dưới da, cơ, đứt đôi động, tĩnh mạch cảnh phải, đứt không hoàn toàn đốt sống cổ C6;
Dạ dày màu trắng đục, bên trong chứa thức ăn đang tiêu hóa, còn phân biệt rõ hạt cơm.
Cơ quan điều tra thu giữ mẫu máu, móng tay nạn nhân (bút lục 111-112, 143-148).
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết, thời gian chết và cơ chế hình thành tổn thương trên cơ thể của các nạn nhân, kết quả như sau:
- Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1865 ngày 19/11/2021 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- + Nguyên nhân chết của ông Trần Định L: Suy hô hấp, suy tuần hoàn do vết thương đứt hoàn toàn khí quản, động – tĩnh mạch cảnh trái.
- + Thời gian chết: Sau bữa ăn cuối cùng khoảng 2-3 giờ, cho đến khi khám nghiệm khoảng 6 - 8 giờ.
- + Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương rách da được hình thành do vật có lưỡi sắc tác động theo nhiều chiều hướng với lực khác nhau tạo nên, trong đó vết thương vùng cổ với lực tác động mạnh làm đứt hoàn toàn khí quản, động – tĩnh mạch cảnh trái là nguyên nhân chết của nạn nhân. (Bút lục 49-50).
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1866 ngày 19/11/2021 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- + Nguyên nhân chết của bà Bùi Thị T: Chấn thương sọ não nặng (sập vỡ phức tạp xương chẩm, dập nát tổ chức não).
- + Thời gian chết: Sau bữa ăn cuối cùng khoảng 2-3 giờ, cho đến khi khám nghiệm khoảng 8 -11 giờ.
- + Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương trợt da nông, nham nhở (dạng côn trùng gặm nhấm). Tổn thương sây sát da nông do tiếp xúc với vật tày, bề mặt không nhẵn tạo nên. Các tổn thương rách da được hình thành do vật có lưỡi sắc tác động theo nhiều chiều hướng với lực khác nhau tạo nên, trong đó vết thương vùng chẩm làm đứt, vỡ xương hộp sọ, dập nát tổ chức não là nguyên nhân dẫn đến tử vong. (Bút lục 53-54).
- Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1867 ngày 19/11/2021 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- + Nguyên nhân chết của Trần Thị T1: Suy hô hấp, suy tuần hoàn do vết thương vùng cổ làm đứt đốt sống cổ C6, động – tĩnh mạch cảnh phải.
- + Thời gian chết: Sau bữa ăn cuối cùng khoảng 2-3 giờ, cho đến khi khám nghiệm khoảng 8 - 12 giờ.
- + Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương rách da được hình thành do vật có lưỡi sắc tác động theo nhiều chiếu hướng với lực khác nhau tạo nên, trong đó vết thương vùng cổ phải hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, với lực tác động mạnh làm đứt đốt sống cổ, động – tĩnh mạch cảnh phải là nguyên nhân chết của nạn nhân. (Bút lục 51-52).
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định dấu vết máu, dấu vết đường vân trên vật chứng thu giữ. Tại các Bản kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận như sau:
Bản kết luận giám định số 1791/KL-KTHS ngày 11/11/2021 kết luận:
- Mẫu máu của tử thi Trần Định L, Bùi Thị T và Trần Thị T1 được niêm phong gửi giám định:
- + Mẫu máu của tử thi Trần Định L và Trần Thị T1: Nhóm máu O.
- + Mẫu máu tử thi Bùi Thị T: Nhóm máu A.
- Các mẫu vật được niêm phong gửi giám định:
- + Trên 05 (năm) con dao: Không phát hiện thấy dấu vết máu.
- + Trên áo vets màu đen, áo len dài tay màu xám, quần dài vải màu đen và quần đùi kẻ ca rô đều có máu người, nhóm máu O.
- + Trên nón lá màu vàng; khăn len màu trắng, xanh, đỏ; áo len dài tay màu xám và áo thu đông dài tay màu cam đều có máu người, nhóm máu A.
- + Các mẫu thu tại hiện trường có ký hiệu 1, 2, 3, 4, 5 và 7 đều có máu người, nhóm máu O.
- + Trên các mẫu thu tại hiện trường có ký hiệu 6, 9 đều có máu người, nhóm máu A. (Bút lục 55- 56).
Bản kết luận giám định số 1792/KL-KTHS ngày 11/11/2021 kết luận:
- - Trên quần thu đông dài màu đen không phát hiện thấy dấu vết máu.
- - Trên quần thu đông dài màu ghi; áo thu đông dài tay màu ghi; áo cộc tay màu trắng, xanh và áo cộc tay màu trắng đều có máu người, nhóm máu O. (Bút lục 57).
Bản kết luận giám định số 1844/KL-KTHS ngày 18/11/2021 kết luận: Dấu vân 10 (mười) đầu ngón tay in trên danh, chỉ bản số 210, mang tên Trần Chung H, sinh năm 1974, nơi cư trú: Thôn P - P, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn với dấu vân 10 (mười) đầu ngón tay in trên danh, chỉ bản số 163, mang tên Trần Văn H2, sinh năm 1974, nơi cư trú: Thôn P, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn là của cùng một người. (Bút lục 58).
Bản kết luận giám định số 2108/KL-KTHS ngày 27/12/2021 kết luận: Trên 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen, bề mặt rỉ sét, có một lưỡi sắc, dài 42cm, phần lưỡi dài 32cm, bản rộng nhất rộng 08cm gửi giám định không phát hiện thấy dấu vết đường vân. (Bút lục 59).
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định Gen (ADN) trên vật chứng thu giữ. Tại Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 409/21/TC-ADN ngày 28/10/2021 của V2- Bộ Y kết luận:
- + Không thu được dữ liệu AND đầy đủ từ con dao gửi giám định trên các locus STR đã phân tích nên không thể so sánh với AND của Trần Định L, Bùi Thị T và Trần Thị T1.
- + AND thu từ chiếc cuốc gửi giám định (mẫu phết phần cán cuốc và phần lưỡi cuốc) trùng khớp hoàn toàn với AND của Bùi Thị T trên tất cả các locus STR đã so sánh.
- + AND thu từ mẫu dấu vết màu nâu đỏ trên vòi, van nước của bể chứa nước là AND trộn lẫn của nhiều người và không thể tách rời AND của từng người riêng biệt nên không thể so sánh với AND của Trần Định L, Bùi Thị T và Trần Thị T1.
- + AND thu từ mẫu phết móng tay bên phải và trái của tử thi Trần Định L trùng khớp hoàn toàn với AND của Trần Định L trên tất cả các locus STR đã so sánh.
- + AND thu từ mẫu phết móng tay bên phải và trái của tử thi Bùi Thị T trùng khớp hoàn toàn với AND của Bùi Thị T trên tất cả các locus STR đã so sánh.
- + AND thu từ mẫu phết móng tay bên phải và trái của tử thi Trần Thị Thảo trùng khớp hoàn toàn với AND của Trần Thị T1 trên tất cả các locus STR đã so sánh.
- + Không thu được AND của người khác từ các mẫu móng tay của Trần Định L, Bùi Thị T, Trần Thị T1 và chiếc cuốc gửi giám định trên các locus STR đã phân tích. (Bút lục 36-41).
Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 418/21/TC-ADN ngày 01/11/2021 của V2- Bộ Y kết luận: ADN thu từ con dao gửi giám định là ADN trộn lẫn của nhiều người (không xác định được là của bao nhiêu người) và không thể tách rời ADN của từng người riêng biệt nên không thể so sánh với ADN của Trần Định L, Bùi Thị T, Trần Thị T1 và Trần Văn H2. (Bút lục 42- 46).
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tình trạng tâm thần của Trần Chung H. Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 136/KLGĐ ngày 07/12/2021 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc - Bộ Y kết luận:
- - Trần Chung H không bị bệnh Tâm thần.
- - Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Trần Chung H không bị bệnh Tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
- - Hiện tại Trần Chung H không bị bệnh Tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi (Bút lục 60-61).
Tiến hành kiểm tra dữ liệu tại Camera an ninh của gia đình ông Trần Định L trong khoảng thời gian từ 6 giờ 55 phút 36 giây đến 14 giờ 11 phút 59 giây ngày 22/10/2021 phát hiện thấy: Tại thời điểm 6 giờ 55 phút 36 giây chị Trần Thị T1 quét sân nhà; tại thời điểm 6 giờ 42 phút 59 giây bà Bùi Thị T đứng ở sân; tại thời điểm 7 giờ 24 phút 20 giây đến 11 giờ 00 phút 31 giây hình ảnh H cầm dao đi lại trên sân, cùng với hình ảnh 1 phần chân của nạn nhân T1 (phần cơ thể còn lại nằm ngoài sự quan sát của camera); từ 11 giờ 01 phút 22 giây đến 11 giờ 03 phút 11 giây là hình ảnh H sử dụng nia, cây thuốc đắp lên người nạn nhân T1; từ 11 giờ 04 phút 00 giây đến 12 giờ 44 phút 00 giây là hình ảnh H cầm dao đi lại trên sân; từ 13 giờ 17 phút 48 giây đến 13 giờ 21 phút 55 giây là hình ảnh H chém ông L, ông L gục ngã bên cạnh chiếc nia, cây thuốc H đắp lên xác nạn nhân T1 (hình ảnh phía chân không thấy người và mặt); từ 13 giờ 21 phút 55 giây đến 13 giờ 26 phút 41 giây là hình ảnh H cầm dao đi lại trên sân và ngồi xuống lục soát người ông L (bút lục 359-468).
Trong quá trình điều tra, Trần Chung H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Cơ quan điều tra đã cho bị cáo H xem lại hình ảnh con dao, kết quả H đã xác nhận đúng là con dao mà H sử dụng để sát hại ông L, bà T và chị T1. Kết quả thực nghiệm điều tra, bị cáo H đã thực hiện lại thuần thục động tác, tư thế cầm dao gây án và phù hợp với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác của vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của các bị hại không yêu cầu Trần Chung H phải bồi thường dân sự. Đồng thời có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS-P2 ngày 09/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Chung H về tội “Giết người” theo các điểm a, đ, n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã mở phiên toà và ngày 27/6/2022 Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang có Quyết định số 593/QĐ-TA quyết định trưng cầu giám định lại. Ngày 19/7/2022 Trung tâm P về tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, Bộ Y đã kết luận “- Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 22/10/2021, bị cáo Trần Chung H đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
- Hiện tại (tại thời điểm giám định) bị cáo Trần Chung H mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.”
Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có Quyết định số 01/2022/QĐ-TA ngày 26/7/2022 Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị cáo tại V3 (huyện T, thành phố Hà Nội) và Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2022/QĐST-HS ngày 30/6/2022.
Tại Kết luận số 50/KLGĐSKTT-SBBCB ngày 16/8/2024 của V3, Kết luận giám định sức khoẻ tâm thần sau điều trị bắt buộc chữa bệnh: “hiện tại bệnh tâm thần của Trần Chung H đã khỏi bệnh, đủ khả nặng nhận thức và điều khiển hành vi, không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”. Vậy Viện pháp y tâm tần trung ương đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang làm các thủ tục tiếp theo theo khoản 2 Điều 12 Nghị định số 64/2011/NĐ-CP ban hành ngày 28/7/2011.
Ngày 04/9/2024, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có Quyết định số 01/2024/QĐ-TA ngày 04/9/2024, đình chỉ biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Quyết định phục hồi vụ án số 04/2024/HSST-TA ngày 04/9/2024 và Quyết định tạm giam đối với bị cáo H.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu và trình bày: vào ngày 22/10/2021 bị cáo có hành vi chém chị T1, bà T và ông L làm cho chị T1, bà T và ông L chết. Sau đó, bị cáo lấy chìa khoá xe máy trong túi áo của ông L lấy xe bỏ trốn. Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, bị cáo hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Đại diện hợp pháp cho bị hại là anh Trần Nguyên H6 trình bày: Kết luận giám định tâm thần số 136 ngày 07/12/2021 là giám định sau, không phải là giám định tại thời điểm phạm tội nên chưa chính xác, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Qua thẩm vấn tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm a, đ, n, p khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i, k khoản 1 Điều 52; Điều 40 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Chung H “Tử hình” về tội “Giết người”. Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Chung H để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
* Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 (Một) con dao bằng kim loại màu đen được niêm phong trong túi niêm phong dán giấy niêm phong, ký hiệu V409-D21, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của V2;
- 01 (Một) chiếc cuốc cán cuốc bằng tre, lưỡi cuốc bằng kim loại, được niêm phong trong túi nilon màu trắng dán giấy niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của V2;
- 01 (Một) con dao lưỡi liền cán bằng kim loại, đầu tù, được niêm phong trong hộp giấy có chữ “T19” dán giấy niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của V2;
- 01 mũ bảo hiểm; 01 mũ vải màu xanh; 01 con dao dài 22,6cm cán gỗ dài 10,7cm, lưỡi dao dài 11,9cm và 05 con dao được niêm phong trong túi giấy dán niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh B;
- 01 áo vest màu đen, kẻ sọc xanh; 01 áo len dài tay màu xám; 01 quần dài vải màu đen, phần đỉa quần có thắt lưng da; 01 quần đùi kẻ ca rô; 01 nón lá màu vàng bị móp méo, có vết rách; 01 khăn len màu trắng, xanh, đỏ, trên khăn có vết rách; 01 áo len dài tay màu xám; 01 áo thu đông dài tay màu cam; 01 quần thu đông, loại quần dài, màu ghi; 01 quần thu đông, loại quần dài, màu đen; 01 áo thu đông dài tay màu ghi; 01 áo cộc tay màu trắng, phần ống tay và cổ áo màu xanh, trên áo có chữ “Đại học bách khoa Hà Nội”; 01 áo cộc tay màu trắng, mặt trước của áo in hoa văn hình đầu lâu, tất cả được đựng trong 03 hộp giấy dán niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh B.
+ Trả lại bị cáo Trần Chung H: Số tiền 217.000 đồng. Nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
+ Trả lại bị cáo Trần Chung H các giấy tờ sau: 01 phiếu tham nhập tuyển quân của người nhập ngũ; 01 phiếu đăng ký nghĩa vụ quân sự; 01 phiếu quân nhân đều mang tên Trần Trung H1.
+ Trả lại bị hại (do anh Trần Nguyên H6 là đại diện cho những người bị hại) 01 đầu ghi camera HIKVISION, màu trắng, có số seri F35457966 được niêm phong trong hộp giấy dán niêm phong có đóng dấu của Công an xã T.
3. Về án phí: Bị cáo Trần Chung H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Luật sư Trần Văn A bào chữa cho bị cáo Trần Chung H phát biểu quan điểm bào chữa:
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và bản Luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và Luận tội đối với bị cáo về tội “Giết người” theo điểm a, đ, n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại hành vi nhận thức của bị cáo tại thời điểm phạm tội: giám định lần 1 tại Cơ quan điều tra, có kết luận giám định bị cáo không bị tâm thần; giám định lần 2 tại quá trình xét xử, Hội đồng xét xử đã cho bị cáo giám định lại xác định: tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không bị tâm thần, tại thời điểm hiện tại bị cáo bị tâm thần; kết luận lần thứ 3 xác định bị cáo đã khỏi bệnh, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đánh giá diễn biến bệnh của bị cáo. Tại thời điểm này bị cáo khỏi bệnh, nhưng tại thời điểm khác bị cáo lại phát bệnh thì sẽ như thế nào? Đề nghị trưng cầu giám định về tâm thần một lần nữa đối với bị cáo.
Trước đó, bị cáo có biểu hiện về bệnh lý, bị cáo bị đánh vào đầu, bị cáo đã điều trị bệnh tại Trại giam V4, kể từ khi ra trại về nhà bị cáo có những biểu hiện không bình thường nhưng gia đình không nhận ra.
Trường hợp Hội đồng xét xử cho rằng hết thẩm quyền giám định lại thì đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc mức án nhân văn đối với bị cáo.
Bị cáo Trần Chung H không tranh luận gì.
Anh Trần Nguyên H6 không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Kiểm sát viên tranh luận đối đáp: Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, còn bị cáo bị tâm thần trước hay sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Đã có hai bản kết luận xác định tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng thực hiện hành vi. Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ và xét hỏi, tranh luận tại phiên toà đều xác định bị cáo có nguyên nhân, động cơ, mục đích, sau khi phạm tội bị cáo đã lấy xe máy bỏ trốn thì bị cáo có nhận thức và quan trọng nhất là kết luận của cơ quan chuyên môn xác định tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã đề nghị.
Các bên không ai tranh luận gì thêm, vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.
Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Chung H: Bị cáo không trình bày gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Đại diện hợp pháp của bị hại là chị Trần Thị H4, chị Trần Thị H5, chị Trần Thị V vắng mặt nhưng đã có văn bản uỷ quyền cho anh Trần Nguyên H6; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, những người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng theo khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- [3] Về tội danh: Tại phiên toà bị cáo Trần Chung H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do có sự mâu thuẫn từ việc Trần Chung H cho rằng cháu Trần Quang M không phải là con của mình nhưng bố, mẹ và những người trong gia đình yêu cầu H phải nhận cháu M là con. Trong khoảng thời gian từ 07 giờ đến hơn 13 giờ ngày 22/10/2021, tại gia đình ông Trần Định L ở thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Trần Chung H đã sử dụng 01 con dao bằng kim loại (loại dao rựa) dài 42 cm, chém nhiều nhát vào vùng đầu, cổ và nhiều vị trí khác trên cơ thể chị Trần Thị T1, bà Bùi Thị T và ông Trần Định L (là em ruột và bố, mẹ đẻ của H). Hậu quả, làm chị T1, bà T và ông L chết ngay tại chỗ đều do suy hô hấp, dập nát tổ chức não. Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù về tội “Cố ý gây thương tích” trở về địa phương, chỉ vì những người trong gia đình yêu cầu bị cáo nhận con của mình, bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm để tước đoạt mạng sống của 03 người là bố, mẹ và em ruột.
Quá trình xét xử bị cáo có biểu hiện tâm thần, nên Hội đồng xét xử đã có Quyết định yêu cầu giám định lại, sau khi có kết luận: hiện tại (thời điểm giám định) bị cáo bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị cáo. Tại kết luận giám định sức khoẻ tâm thần sau điều trại bắt buộc chữa bệnh số 50/KLGĐSKTT-SBBCB ngày 16/8/2024 đã xác định hiện tại bệnh tâm thần của Trần Chung H đã khỏi bệnh, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, không cần áp dụng bắt buộc chữa bệnh. Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ra Quyết định đình chỉ biện pháp bắt buộc chữa bệnh và phục hồi vụ án.
Do đó, hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với các tình tiết định khung “Giết 02 người trở lên”, “Giết cha, mẹ của mình”, “Có tính chất côn đồ” và “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm a, đ, n, p khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [4]. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính man rợ, vô nhân tính của một kẻ thủ ác, trong một khoảng thời gian ngắn, bị cáo đã trực tiếp tước đi mạng sống của 03 con người đều là người thân của bị cáo chỉ vì những mâu thuẫn không đáng kể. Sự ra tay của bị cáo hết sức tàn ác, dã man đến cực độ, không còn tính người. Hành vi đó đã ảnh hưởng đặt biệt nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để phòng ngừa chung loại tội phạm này.
- [5]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội đối với ông L, bà T là “Người đủ 70 tuổi” và chị T1 là “Người bị khuyết tật nặng”. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo có thời gian tham gia trong quân đội từ năm 1993 đến năm 1995 xuất ngũ, có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, đại diện cho bị hại không yêu cầu bồi thường về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [6]. Xét quan điểm bào chữa của Luật sư đề nghị giám định lại, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình xét xử, có nghi ngờ về tình trạng tâm thần của bị cáo, Hội đồng xét xử đã thực hiện việc giám định tâm thần lại đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật. Đến nay, đã có kết luận của cơ quan chuyên môn về việc bị cáo đã khỏi bệnh nên không có căn cứ để giám định lại theo đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo.
- [7]. Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Mặc dù đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo mới chấp hành xong hình phạt 06 năm tù về “Tội cố ý gây thương tích” trở về địa phương ngày 13/10/2021 đến ngày 22/10/2021 lại tiếp tục phạm tội đặt biệt nghiêm trọng, cùng một lúc phạm vào 04 tình tiết tăng nặng định khung tại khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo là con ruột, là anh ruột nhưng đã trực tiếp dùng dao ra tay tước đoạt mạng sống những người đã sinh thành, dưỡng dục và em gái của mình. Bản chất của bị cáo không thể cảm hóa, cải tạo được nữa nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao nhất, loại bỏ vĩnh viễn bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, như vậy mới tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đảm bảo phòng ngừa chung trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ở giai đoạn hiện nay.
- [8] Đối với hành vi bị cáo lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98H5-2868 của bị hại ông Trần Định L thì thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai không có ý định chiếm đoạt chiếc xe này, lý do bị cáo lấy xe là sau khi gây án sợ bị phát hiện nên đã lấy xe để chạy trốn. Hội đồng xét xử thấy rằng: bản thân bị cáo đang chung sống cùng với bị hại, sau khi gây án ngoài lấy chiếc xe thì bị cáo không lấy bất kỳ tài sản gì khác của bị hại, hơn nữa trước khi bị bắt bị cáo vẫn sử dụng chiếc xe này để chạy trốn, không mang chiếc xe đi bán hay cầm cố cho ai. Do vậy, có sở sở xác định bị cáo không có mục đích chiếm đoạt chiếc xe của bị hại nên không có dấu hiệu của hành vi cướp tài sản như cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã nhận định là đúng. Nay chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98H5-2868 đã được cơ quan điều tra trả lại cho đại diện gia đình bị hại là phù hợp.
- [9] Đối với anh Mai Văn T8 và Phạm Văn T2 là những người tiếp xúc với H trong quá trình H bỏ trốn, tuy nhiên những người này đều không biết về hành vi phạm tội của H nên không xem xét xử lý là đúng.
- [10] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- [11] Về xử lý vật chứng:
Đối với những vật chứng sau, gồm:
- 01 con dao bằng kim loại màu đen được niêm phong trong túi niêm phong dán giấy niêm phong, ký hiệu V409-D21, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của V2;
- 01 chiếc cuốc cán cuốc bằng tre, lưỡi cuốc bằng kim loại, được niêm phong trong túi nilon màu trắng dán giấy niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của V2;
- 01 con dao lưỡi liền cán bằng kim loại, đầu tù, được niêm phong trong hộp giấy có chữ “T19” dán giấy niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của V2;
- 01 mũ bảo hiểm; 01 mũ vải màu xanh; 01 con dao dài 22,6cm cán gỗ dài 10,7cm, lưỡi dao dài 11,9cm và 05 con dao được niêm phong trong túi giấy dán niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh B;
- - Đối với: 01 áo vest màu đen, kẻ sọc xanh; 01 áo len dài tay màu xám; 01 quần dài vải màu đen, phần đỉa quần có thắt lưng da; 01 quần đùi kẻ ca rô; 01 nón lá màu vàng bị móp méo, có vết rách; 01 khăn len màu trắng, xanh, đỏ, trên khăn có vết rách; 01 áo len dài tay màu xám; 01 áo thu đông dài tay màu cam; 01 quần thu đông, loại quần dài, màu ghi; 01 quần thu đông, loại quần dài, màu đen; 01 áo thu đông dài tay màu ghi; 01 áo cộc tay màu trắng, phần ống tay và cổ áo màu xanh, trên áo có chữ “Đại học bách khoa Hà Nội”; 01 áo cộc tay màu trắng, mặt trước của áo in hoa văn hình đầu lâu, tất cả được đựng trong 03 hộp giấy dán niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh B.
Hội đồng xét xử thấy đây là những vật chứng của vụ án và liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng hoặc giá trị không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 217.000 đồng được đựng trong 01 phong bì của Phòng K1 Công an tỉnh B dán niêm phong là của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với các giấy tờ sau, gồm: 01 phiếu tham nhập tuyển quân của người nhập ngũ; 01 phiếu đăng ký nghĩa vụ quân sự; 01 phiếu quân nhân đều mang tên Trần Trung H1 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 đầu ghi camera HIKVISION, màu trắng, có số seri F35457966 được niêm phong trong hộp giấy dán niêm phong có đóng dấu của Công an xã T là của gia đình bị hại, không liên quan đến hành vi của bị cáo nên cần trả lại cho đại diện bị hại.
- [12] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, bị cáo Trần Chung H chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- [13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm a, đ, n, p khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i, k khoản 1 Điều 52; Điều 40 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Trần Chung H (tên gọi khác Trần Trung H1, Trần Văn H2) “Tử hình” về tội “Giết người”.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Chung H để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
* Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 con dao bằng kim loại màu đen được niêm phong trong túi niêm phong dán giấy niêm phong, ký hiệu V409-D21, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của V2;
- - 01 chiếc cuốc cán cuốc bằng tre, lưỡi cuốc bằng kim loại, được niêm phong trong túi nilon màu trắng dán giấy niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của V2;
- - 01 con dao lưỡi liền cán bằng kim loại, đầu tù, được niêm phong trong hộp giấy có chữ “T19” dán giấy niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của V2;
- - 01 mũ bảo hiểm; 01 mũ vải màu xanh; 01 con dao dài 22,6cm cán gỗ dài 10,7cm, lưỡi dao dài 11,9cm và 05 con dao được niêm phong trong túi giấy dán niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh B;
- - 01 áo vest màu đen, kẻ sọc xanh; 01 áo len dài tay màu xám; 01 quần dài vải màu đen, phần đỉa quần có thắt lưng da; 01 quần đùi kẻ ca rô; 01 nón lá màu vàng bị móp méo, có vết rách; 01 khăn len màu trắng, xanh, đỏ, trên khăn có vết rách; 01 áo len dài tay màu xám; 01 áo thu đông dài tay màu cam; 01 quần thu đông, loại quần dài, màu ghi; 01 quần thu đông, loại quần dài, màu đen; 01 áo thu đông dài tay màu ghi; 01 áo cộc tay màu trắng, phần ống tay và cổ áo màu xanh, trên áo có chữ “Đại học bách khoa Hà Nội”; 01 áo cộc tay màu trắng, mặt trước của áo in hoa văn hình đầu lâu, tất cả được đựng trong 03 hộp giấy dán niêm phong, có chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh B.
- Trả lại bị cáo Trần Chung H: Số tiền 217.000 đồng (Hai trăm mười bẩy nghìn đồng). Nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Trả lại bị cáo Trần Chung H các giấy tờ sau: 01 phiếu tham nhập tuyển quân của người nhập ngũ; 01 phiếu đăng ký nghĩa vụ quân sự; 01 phiếu quân nhân đều mang tên Trần Trung H1.
- Trả lại bị hại (do anh Trần Nguyên H6 là đại diện cho những người bị hại) 01 đầu ghi camera HIKVISION, màu trắng, có số seri F35457966 được niêm phong trong hộp giấy dán niêm phong có đóng dấu của Công an xã T.
(Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2022).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Chung H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo; Đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
5. Trong thời hạn 07 ngày kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền làm đơn xin ân giảm lên Chủ tịch N1.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội giết người
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Trần Chung H, sinh năm 1974; tên gọi khác: Trần Trung H1, Trần Văn H2. Nơi đăng ký thường trú: thôn P- P, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn phổ thông: 12/12; con ông Trần Định L, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Bùi Thị T, sinh năm 1949 (đã chết); gia đình có 06 anh em, bị cáo là thứ nhất; vợ: Hà Thị K, sinh năm 1979 (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014; tiền sự: không. ... QUYẾT ĐỊNH: Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a, đ, n, p khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i, k khoản 1 Điều 52; Điều 40 Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Trần Chung H (tên gọi khác Trần Trung H1, Trần Văn H2) “Tử hình” về tội “Giết người”.
