Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17 tháng 9 năm 2024

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Ngọc Tân;

2. Ông Nguyễn Công Tụ.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 130/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXX-ST ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1982

Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn V, sinh năm 1981

Nơi cư trú: Thôn L, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(chị L, anh V đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Đỗ Thị L có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn V tự do, tự nguyện tìm hiểu dẫn đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 21/01/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã A và lao động tự do. Cuộc sống hạnh phúc, hòa thuận đến tháng 4 năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2006 cho đến nay, mỗi người sống một nơi. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh V không còn, chị xin ly hôn anh V.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung, chị có 01 con riêng là cháu Lâm Minh T, sinh ngày 27/10/2012, sinh con trong thời kỳ ly thân, chị đề nghị Tòa án xác định cháu T là con riêng của chị. Hiện chị L không có thai.

Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị L nhất trí với kết quả trưng cầu giám định, chị L nhận chịu toàn bộ chi phí giám định.

- Tại bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình và tại đơn xin xét xử vắng mặt anh Đỗ Văn V trình bày: Anh xác nhận lời trình bày của chị L về thời gian hoàn cảnh kết hôn là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 4/2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2006 cho đến nay, mỗi người sống một nơi. Nay chị L có đơn xin ly hôn thì anh V xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh nhất trí ly hôn. Về con chung: Vợ chồng không có con chung, anh xác định cháu Lâm Minh T, sinh ngày 27/10/2012 là con riêng của chị L. Anh V nhất trí với kết quả trưng cầu giám định. Về tài sản chung: Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai cháu Lâm Minh T trình bày: Cháu Lâm Minh T, sinh ngày 27/10/2012 là con đẻ của chị Đỗ Thị L và anh Lâm Minh S. Hiện cháu T đang học lớp 7 trường Trung học cơ sở xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, cháu không có quan hệ gì với anh Đỗ Văn V. Nếu chị L, anh V ly hôn thì cháu T có nguyện vọng ở cùng chị L.

Kết quả xét nghiệm ADN số 6268H/2024 của cả bố mẹ ngày 16/8/2024 của Công ty TNHH C, địa chỉ: Tầng A tòa nhà A, B H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội kết luận: Anh Đỗ Văn V không có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Lâm Minh T. Chị Đỗ Thị L có quan hệ huyết thống mẹ - con với cháu Lâm Minh T.

- Tại biên bản xác minh với cán bộ tư pháp xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:

Chị Đỗ Thị L và anh Đỗ Văn V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 21/01/2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Hiện nay chị L và anh V đã sống ly thân từ tháng 4/2006 cho đến nay mỗi người một nơi. Nay chị L có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị L và anh V không có con chung, chị L có 01 con riêng là cháu Lâm Minh T, sinh ngày 27/10/2012 sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng các bên. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ.

- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Đỗ Thị L và anh Đỗ Văn V là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã A, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị L, anh V như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử ... nhưng chị L, anh V có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị L, anh V được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 21/01/2006 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 04/2006 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị L đề nghị ly hôn anh V cũng đồng ý ly hôn, anh V cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L, anh V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị được ly hôn anh V là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Trên cơ sở phiếu kết quả phân tích ADN số 6268H/2024 của cả bố mẹ ngày 16/8/2024 của Công ty TNHH C, địa chỉ: Tầng A tòa nhà A, B H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội kết luận: Anh Đỗ Văn V không có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Lâm Minh T, độ tin cậy trên 99,999999%. Chị Đỗ Thị L có quan hệ huyết thống mẹ - con với cháu Lâm Minh T, độ tin cậy trên 99,999999%. Chị Đỗ Thị L và anh Đỗ Văn V đều xác nhận không có con chung. Do vậy yêu cầu xác định cháu Lâm Minh T, sinh ngày 27/10/2012 là con riêng của chị Đỗ Thị L là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đỗ Thị L, anh Đỗ Văn V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về chi phí giám định: Chị L nhận chịu toàn bộ chi phí giám định, chị L đã nộp đủ.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị L được ly hôn anh Đỗ Văn V.
  2. Về quan hệ con chung: Chị Đỗ Thị L và anh Đỗ Văn V không có con chung. Xác định cháu Cháu Lâm Minh T, sinh ngày 27/10/2012 là con riêng của chị Đỗ Thị L, không phải là con của anh Đỗ Văn V.
  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về chi phí giám định: Chị L nhận chịu toàn bộ chi phí giám định, chị L đã nộp đủ.
  5. Về án phí: Chị Đỗ Thị L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp theo Biên lai thu số 0004772 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị L, anh Đỗ Văn V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - UBND xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị L và anh V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger