TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/DS-ST
Ngày 30/8/2024
V/v “Đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Lương
Ông Phạm Xoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 136/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc: “Đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-DS ngày 01.8.2024 giữa:
* Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm: 1937; Địa chỉ: 1 đường T, tổ D K, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Hoàng P, sinh năm 2001; Địa chỉ liên hệ: 147/42 Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Ông Lý Vinh H; Địa chỉ: C L, quận H, thành phố Đà Nẵng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Xuân Q, sinh năm 1983; Địa chỉ: A N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
Công ty L. Địa chỉ: C L, quận H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lý Vinh H - Giám đốc, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Lê Thị Thúy K, sinh năm: 1994; Địa chỉ liên hệ: C L, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 25/7/2019, bà Trần Thị T cùng ông Trần P1, ông Trần Xuân Q và ông Hồ Quốc B đã thỏa thuận rút đơn khởi kiện đòi quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP .. Theo thỏa thuận, ông Trần Xuân Q đại diện ông Trần P1 sẽ hỗ trợ cho bà Trần Thị T số tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng). Ngày 26/7/2019, ông Lý Vinh H, luật sư thuộc Đoàn luật sư T2 đi cùng ông Trần Xuân Q và đã nhận số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) từ ông Trần Xuân Q và cam kết giúp bà T chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng.
Tại Ngân hàng TMCP Á (A) - Phòng G1, ông Lý Vinh H đã ghi giúp bà T giấy chuyển tiền và yêu cầu bà T ký vào giấy chuyển tiền, tuy nhiên do tin tưởng nên bà T không kiểm tra lại số tiền ghi trên giấy chuyển tiền. Sau khi vào lại Cần Thơ, khi rút tiền tại ngân hàng A – Phòng G2 tại Cần Thơ, bà T phát hiện chỉ có 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) được nộp vào tài khoản của mình, thiếu 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Căn cứ theo Bảng kê giao dịch của Ngân hàng TMCP Á (A) ngày 20/03/2024, ông Lý Vinh H đã thực hiện giao dịch chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của bà T số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) với nội dung: “Tiền bác T nhận từ vụ án tranh chấp đất đai với ông Trần P1 ở L, Đà Nẵng." Trên cơ sở giao dịch này, ông Lý Vinh H đã ngang nhiên giữ lại và chiếm giữ trái pháp luật số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) trên tổng số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) mà bà T nhận được theo Văn bản thỏa thuận ngày 25/7/2019 giữa bà Trần Thị T và ông Trần Xuân Q, Trần Phước . Đây là cơ sở để bà T khiếu nại, tố cáo, khởi kiện ông Lý Vinh H để đòi lại tài sản của mình. Sau đó bà T đã nhiều lần liên hệ với ông Lý Vinh Hyêu cầu chuyển số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) nhưng ông Lý Vinh H cố tình lẩn tránh, thách thức bà T khởi kiện, khiếu nại, tố cáo, có ý xem thường pháp luật. Bởi lẽ, ông H cho rằng số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) này là thù lao theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý đề ngày 26/9/2018. Tuy nhiên, bà T không có yêu cầu hay hợp đồng dịch vụ pháp lý nào với ông H và bà T cũng không có ký bất kỳ hợp đồng dịch vụ pháp lý nào với luật sư Lý Vinh H.
Căn cứ vào nội dung Hợp đồng dịch vụ pháp lý đề ngày 26/9/2018 được ông H sử dụng để giải trình với Đoàn luật sư T2 không có chữ ký của bà T. Do đó, Hợp đồng dịch vụ pháp lý mà ông Lý V Hoàng cung cấp trái với Luật Luật sư. Ngoài ra, Hợp đồng này thể hiện rõ sự đối phó một cách cẩu thả khi tại Điều 1 của Hợp đồng dịch vụ pháp lý đề ngày 26/9/2018 quy định về nội dung dịch vụ: “Bên B cử luật sư và người đại diện ủy quyền cho bên A tham gia trong giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, giai đoạn thi hành án vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Trần P1 (địa chỉ: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng) tại thửa số 698, tờ bản đồ số 7 địa chỉ Tổ A, phường H, quận L, Đà Nẵng do Tòa án nhân dân quận Thanh Khê thụ lý giải quyết.” Trong khi bà Trần Thị T khởi kiện ông Trần P1 thì Tòa án thụ lý vụ án là Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu. Cần khẳng định hợp đồng này dịch vụ pháp lý này không hợp pháp, có dấu hiệu che dấu cho hành vi chiếm giữ số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) trái pháp luật.
Ngày 19/05/2022, Đoàn luật sư T2 qua thông báo số 09/2022/TB-DLS, cho rằng không đủ cơ sở xác định ông H có hành vi chiếm giữ số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Xét việc trả lời của Đoàn luật sư thành phố T2 là chưa đúng, tuy nhiên Đoàn luật sư cho rằng bà T có thể khởi kiện tại Tòa án để giải quyết tranh chấp này.
Căn cứ vào các sự kiện và bằng chứng nêu trên, bà T đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xem xét, giải quyết yêu cầu buộc ông Lý Vinh H trả lại số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) đã chiếm giữ trái pháp luật của bà Trần Thị T và phải thanh toán số tiền lãi tạm tính là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng) do chiếm giữ tiền từ ngày 26/7/2019 đến ngày khởi kiện 15/3/2024.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lý Vinh H trình bày:
Ngày 26/9/2018, bà Trần Thị T và Công ty L có ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý số 2/HĐDVPL/CTLKPK để cử Luật sư và người đại diện theo uỷ quyền cho bà T trong giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, thi hành án vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Trần P1. Theo hợp đồng thì thù lao thực hiện là 50% giá trị tài sản mà bên A thắng kiện. Phương thức thanh toán: Chia đôi tài sản mà bên A thắng kiện hoặc quy đổi ra tiền, bên nhận đất có nghĩa vụ thối tiền cho bên kia theo giá thị trường. Công ty L cử người đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị T tham gia tố tụng trong vụ án. Ngày 26/7/2019, bà T thoả thuận với bị đơn là rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Toà án đình chỉ vụ án, bà T chấp nhận hỗ trợ từ bị đơn số tiền 800.000.000 đồng. Cùng ngày 26/7/2019, bà Trần Thị T và Công ty L đã lập biên bản chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý, trong đó, bà T đã nhận số tiền 700.000.000 đồng từ ông Trần Xuân Q là người đại diện của ông Trần P1 (theo biên bản giao nhận tiền ngày 26/7/2019) Luật sư nhận số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Ông H xác định Công ty đã thực hiện đúng theo thoả thuận của hợp đồng dịch vụ pháp lý. Ông H có giúp bà T chuyển vào tài khoản bà T tại Ngân hàng TMCP Á (A) số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) với nội dung: “Tiền bác T nhận từ vụ án tranh chấp đất đai với ông Trần P1 ở L, Đà Nẵng.
Nếu bà T xác định tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý thì ông H yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện đã hết, hợp đồng dịch vụ pháp lý được ký kết vào ngày 26/9/2018 và hợp đồng đã được thanh lý ngày 26/7/2019 nên đã hết thời hiệu khởi kiện. Số tiền 300.000.000 đồng là tiền thù lao theo hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa bà T và Công ty L.
Nếu bà T xác định tranh chấp yêu cầu trả tiền thì ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T. Vì theo biên bản giao nhận tiền ngày 26/7/2019, bà T là người nhận tiền (ông H là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị T trong vụ án tranh chấp tại Toà án ND quận Liên Chiểu). Ông H có nộp giúp vào tài khoản Ngân hàng của bà T số tiền 400.000.000 đồng, còn số tiền 300.000.000 đồng bà T thanh toán tiền thù lao cho theo hợp đồng và đã thanh lý hợp đồng. Ông H đại diện Công ty nhận số tiền thù lao từ bà T.
Trong quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty L trình bày:
Ngày 26/9/2018, bà Trần Thị T và Công ty L có ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý số 2/HĐDVPL/CTLKPK để cử Luật sư và người đại diện theo uỷ quyền cho bà T trong giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, thi hành án vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Trần P1. Theo hợp đồng thì thù lao thực hiện là 50% giá trị tài sản mà bên A thắng kiện. Phương thức thanh toán: Chia đôi tài sản mà bên A thắng kiện hoặc quy đổi ra tiền, bên nhận đất có nghĩa vụ thối tiền cho bên kia theo giá thị trường. Công ty L cử người đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị T tham gia tố tụng trong vụ án là bà Lê Thị Thúy K. Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty L đã tư vấn và hỗ trợ bà T rất nhiều vấn đề liên quan đến vụ án. Ngày 26/7/2019, bà T thoả thuận với bị đơn là rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Toà án đình chỉ vụ án, bà T chấp nhận hỗ trợ từ bị đơn số tiền 800.000.000 đồng. Cùng ngày 26/7/2019, bà Trần Thị T và Công ty L đã lập biên bản chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý, trong đó, bà T đã nhận số tiền 700.000.000 đồng từ ông Trần Xuân Q là người đại diện của ông Trần P1 (theo biên bản giao nhận tiền ngày 26/7/2019) Luật sư nhận số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Công ty xác định đã thực hiện đúng theo thoả thuận của hợp đồng dịch vụ pháp lý. Ông H có giúp bà T chuyển vào tài khoản bà T tại Ngân hàng TMCP Á (A) số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), số tiền 300.000.000 đồng ông H đại diện Công ty đã nhận là tiền thù lao theo hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa bà T và Công ty L.
Nếu bà T xác định tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý thì Công ty L yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện, hợp đồng dịch vụ pháp lý được ký kết vào ngày 26/9/2018 và hợp đồng đã được thanh lý ngày 26/7/2019 nên đã hết thời hiệu khởi kiện.
* Người làm chứng bà Lê Thị Thúy K trình bày: Bà K là nhân viên của Công ty TNHH MTV L, người đại diện theo pháp luật là Luật sư Lý Vinh H – Giám đốc. Ngày 26/09/2018, Công ty L có ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý số 2/HĐDVPL/CTLKPK với bà Trần Thị T. Đại diện Công ty L là luật sư Lý Vinh H cùng với bà K làm việc trực tiếp với bà Trần Thị T để trao đổi cụ thể về những công việc cần làm, trong đó có nội dung về việc cử bà K là người đại diện ủy quyền cho bà T để thực hiện các công việc theo nội dung hợp đồng đã ký kết và được sự đồng ý của bà T. Về nội dung cụ thể của hợp đồng dịch vụ pháp lý thì bà K không biết cụ thể vì bà K là nhân viên Công ty làm việc theo sự phân công của Công ty.
Ngày 26/09/2018, Công ty L ký Quyết định phân công công việc số 02/2018/QĐ-PCCV trong đó cử bà K là người đại diện theo ủy quyền cho bà Trần Thị T để thực hiện các công việc trong giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, giai đoạn thi hành án của án "Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa bà Trần Thị T và ông Trần P1 liên quan đến thửa đất số 698, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
Bà K và bà Trần Thị T đã đến UBND phường T để thực hiện thủ tục chứng thực chữ ký tại Giấy ủy quyền có số chứng thực 1718, quyển số I-SCT/CK, CĐ ngày 26/09/2018 tại UBND phường T.
Sau đó, cần bổ sung thêm một số nội dung công việc mới so với Giấy ủy quyền có số chứng thực 1718, quyển số I-SCT/CK, CĐ ngày 26/09/2018 tại UBND phường T nên bà K có liên hệ với bà Trần Thị T để làm giấy ủy quyền mới. Khi đó, bà T đang ở nhà tại 1 T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ nên bà T trực tiếp đến UBND phường C, quận N, thành phố Cần Thơ thực hiện việc chứng thực chữ ký giấy ủy quyền (Giấy ủy quyền số chứng thực 1078/2018, Quyển số 01/2018-SCT/CK,ĐC ngày 18/12/2018 tại UBND phường C, quận N, thành phố Cần Thơ) và gửi Giấy uỷ quyền ra cho Công ty.
Vì tài liệu chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện không đảm bảo nên Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã nhiều lần có Thông báo yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện liên quan đến nguồn gốc đất và tư cách khởi kiện. Bà K với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị T, đã nhiều lần làm đơn và liên hệ các cơ quan có thẩm quyền xin trích lục hồ sơ đất đai để cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Đến ngày 02/05/2019, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu tiến hành thụ lý vụ án dân sự số 44/2019/TLST-DS về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn là ông Trần P1.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nhận thấy các bên đã thương lượng về phương án hòa giải nên Luật sư Lý Vinh H có trao đổi với bà Trần Thị T trực tiếp tham gia để trình bày ý chí, nguyện vọng của bà. Sau đó, các bên thống nhất được phương án hòa giải, thương lượng. Đến ngày 25 tháng 7 năm 2019, với sự tham dự của bà Trần Thị T, các bên thống nhất và ký vào văn bản thỏa thuận. Đến ngày 26/7/2019, tại Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, các bên tiến hành bàn giao số tiền 700.000.000 đồng, Trong đó người giao tiền là ông Q, bà T nhận tiền và Luật sư Lý Vinh H là người làm chứng. Tiền là do bà T nhận chứ ông H không nhận.
Bà K đã hoàn thành công việc của khách hàng theo sự phân công của Công ty L. Việc bà Trần Thị T cho rằng giữa bà và ông Lý Vinh H không có bất kỳ hợp đồng dịch vụ hợp đồng pháp lý nào là không đúng sự thật. Bởi bà K- nhân viên Công ty Luật KPK là người được phân công trực tiếp phụ trách hồ sơ của bà Trần Thị T, thực hiện công việc theo nội dung ủy quyền của bà T (việc ủy quyền được cơ quan có thẩm quyền chứng thực) tại Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu. Việc Công ty và bà T thanh lý hợp đồng và Công ty được hưởng thù lao cụ thể như thế nào bà K không rõ.
Nay bà Trần Thị T khởi kiện ông Lý Vinh H yêu cầu trả lại số tiền 300 triệu đồng và tiền lãi là không có cơ sở. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định.
Trong quá trình giải quyết, Toà án đã tống đạt các Thông báo cho ông Trần Xuân Q nhưng ông Q vắng mặt nên không có bản khai.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, phát biểu:
Đối với thủ tục tố tụng:
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nội dung vụ án:
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phần trình bày của đương sự tại phiên tòa hôm nay và các quy định của pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Lý Vinh H trả lại cho bà Trần Thị T số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và trả tiền lãi là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị T khởi kiện yêu cầu ông Lý Vinh H hoàn trả tiền, đây là tranh chấp về giao dịch dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lý Vinh H có địa chỉ tại quận H, thành phố Đà Nẵng, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên toà hôm nay, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, bị đơn, người đại diện theo pháp luật của Công ty L đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Xuân Q đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về nội dung: Ngày 26/7/2019, bà Trần Thị T đã nhận số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) từ ông Trần Xuân Q, bà Trần Thị T có nhờ ông Lý Vinh H giúp bà T chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng. Ông Lý Vinh H đã nộp tiền vào tài khoản của bà T số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) với nội dung: “Tiền bác T nhận từ vụ án tranh chấp đất đai với ông Trần P1 ở L, Đà Nẵng.", còn 300.000.000 đồng ông Lý Vinh Hoàng G. Bà Trần Thị T xác định không có ký bất kỳ hợp đồng dịch vụ pháp lý nào với luật sư Lý Vinh H. Nay bà T yêu cầu ông Lý Vinh H phải trả cho T số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và phải trả tiền lãi là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng) do chiếm giữ tiền từ ngày 26/7/2019 đến ngày khởi kiện 15/3/2024.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thì thấy: Ngày 26/9/2018, bà Trần Thị T và Công ty L có ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý số 2/HĐDVPL/CTLKPK để cử Luật sư và người đại diện theo uỷ quyền cho bà T trong giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, thi hành án vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Trần Phước T1 đất số 698, tờ bản đồ số 7 địa chỉ Tổ A phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Về thù lao là 50% giá trị tài sản mà bên A thắng kiện. Phương thức thanh toán: Chia đôi tài sản mà bên A thắng kiện hoặc quy đổi ra tiền, bên nhận đất có nghĩa vụ thối tiền cho bên kia theo giá thị trường. Ông Lý Vinh H là người đại diện của Công ty L ký hợp đồng với bà Trần Thị T. Thực hiện hợp đồng này, Công ty L cử bà Lê Thị Thúy K là người đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị T tham gia tố tụng trong vụ án. Ngày 25/7/2019, bà T, ông Trần P1, ông Hồ Quốc B và ông Trần Xuân Q lập văn bản thoả thuận, nội dung bà T đồng ý nhận số tiền 800.000.000 đồng, rút đơn cầu khởi kiện đã nộp tại Toà án nhân dân quận Liên Chiểu. Ngày 26/7/2019, ông Trần Xuân Q và bà Trần Thị T lập biên bản giao nhận tiền, ông Trần Xuân Q giao số tiền 700.000.000đ, bà T đã nhận đủ, tại biên bản có ghi nhận bên làm chứng ông Lý Vinh H – Luật sư bà T. Cùng ngày ông Lý Vinh H và bà Trần Thị T đến Ngân hàng, ông H đã thực hiện việc nộp vào tài khoản bà Trần Thị T số tiền 400.000.000 đồng. Ngày 26/7/2019, bà T và Công ty L lập biên bản chấm dứt hợp đồng, nội dung bà T rút yêu cầu khởi kiện, Toà án đình chỉ vụ án. Bà T chấp nhận hỗ trợ từ bị đơn số tiền 800.000.000 đồng. Hai bên chấm dứt hợp đồng, với nội dung sau: Bà T nhận số tiền 500.000.000₫ (trong đó đợt 1 nhận 400.000.000đ; đợt 2 nhận 100.000.000đ); luật sư nhận số tiền 300.000.000đ. Giữa bà T và Công ty L đã thực hiện xong hợp đồng dịch vụ pháp lý. Xét thấy, giữa bà T và ông H không có ký kết hợp đồng hay giao dịch gì, ông Lý Vinh H có nhận của bà Trần Thị T số tiền 300.000.000 đồng vào ngày 26/7/2019, tuy nhiên giữa bà Trần Thị T và Công ty L có ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý số 2/HĐDVPL/CTLKPK ngày 26/9/2018. Ngày 26/7/2019, ông Lý Vinh H là người đại diện Công ty L nhận số tiền 300.000.000 đồng là tiền thù lao phát sinh từ hợp đồng dịch vụ pháp lý là thực theo thoả thuận tại Hợp đồng. Do đó, HĐXX không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về việc yêu cầu ông Lý Vinh H trả lại cho bà Trần Thị T số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và trả tiền lãi là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).
Đối với việc ông Lý Vinh H và Công ty L yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện hợp đồng dịch vụ pháp lý được ký kết vào ngày 26/9/2018 đã được thanh lý ngày 26/7/2019 trong trường hợp bà T tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý thì thấy, bà T khởi kiện đòi ông Lý Vinh H trả số tiền đã chiếm giữ là 300.000.000 đồng chứ không tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý với Công ty L nên HĐXX không xem xét về thời hiệu của hợp đồng.
[3] Về án phí: Bà Trần Thị T là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 165; 166; 275; 513; 519 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Đòi tài sản” của bà Trần Thị T đối với ông Lý Vinh H.
Về án phí:
Bà Trần Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phương Thảo |
Bản án số 85/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về đòi tài sản
- Số bản án: 85/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
