Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày 30/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Kim Niệm;

2. Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn T, sinh năm 1982 tại Tiền Giang; địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn D (đã chết) và bà Huỳnh Thị Q (đã chết); bị cáo có vợ tên Co L, sinh năm 1983; có 02 người con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Hiếu H, sinh năm 1993; điạ chỉ: Thôn K, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt

2. Ông Võ Văn T1, sinh năm 1979; địa chỉ: 1 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

3. Ông Tô Thống N, sinh năm 1979; địa chỉ: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Y La Wie Ê, sinh năm 1997; địa chỉ: Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Đăk . Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Đại diện theo ủy quyền của ông T2: Ông Tô Thống N, sinh năm 1979; địa chỉ: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.

- Nguyên đơn dân sự:

1. Hợp tác xã xe khách liên tỉnh DL&DV Thống nhất; địa chỉ: Số C, L, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật ông Hồ Văn H1, sinh năm 1943; địa chỉ: A, đường C, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của ông H1: Ông Nguyễn Hiếu H, sinh năm 1993; điạ chỉ: Thôn K, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.

2. Công ty TNHH D1; địa chỉ: B Đ, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Kim O – giám đốc; địa chỉ: Thôn D, T, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk; địa chỉ liên lạc: 4 N, phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo ủy quyền của bà O: Ông Võ Văn T1, sinh năm 1979; địa chỉ: 1 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH T4

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đăng T3 – Chủ tịch Hội đồng thành viên; Địa chỉ: 2 đường D, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo ủy quyền của ông T3: Bà Nguyễn Thị Hoàng U, sinh năm 1988; Địa chỉ: B, quốc lộ A cũ, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: D H, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 20/02/2024, Phan Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 50H-251.05 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R-132.89 lưu thông trên đường ĐT 741 theo hướng từ tỉnh Bình Phước đến tỉnh Bình Dương. Khi đi đến đoạn đường Đ thuộc khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương bị cáo điều khiển đi không đúng làn đường quy định (lấn trái sang làn đường dành cho xe ô tô con) và không giữ khoảng cách an toàn với xe ô tô biển số 47B-028.28 do ông Võ Văn T1 điều khiển cùng chiều đang chuẩn bị dừng đèn đỏ trên làn đường dành cho xe ô tô con nên đầu xe ô tô đầu kéo do T điều khiển va chạm vào xe khách biển số 47B-028.28 làm xe ô tô khách va chạm vào phía sau xe ô tô khách biển số 51B-121.60 do ông Nguyễn Hiếu H điều khiển đang dừng đèn đỏ phía trước cùng chiều, xe ô tô khách biển số 51B-121.60 tiếp tục va chạm phía sau xe ô tô tải biển số 93C-176.15 do ông Tô Đồng N1 điều khiển đang dừng đèn đỏ phía trước cùng chiều. Tai nạn giao thông xảy ra làm bốn phương tiện giao thông bị hư hỏng. Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương chủ trì khám nghệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện theo quy định pháp luật để ghi nhận lại những dấu vết hiện trường.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:

- 01 xe ô tô đầu kéo biển số 50H-251.05 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R-132.89 của Công ty TNHH T4

- 01 xe khách biển số 47B-028.28 do ông Y La W Êban đứng tên

- 01 xe khách biển số 51B-121.60 của Hợp tác xã xe khách liên tỉnh Du lịch và dịch vụ Thống N.

- 01 xe ô tô tải biển số 93C-176.15 đây là tài sản của ông Trần Văn T2

- 01 Giấy phép lái xe hạng E số [...] mang tên Nguyễn Hiếu H

- 01 Giấy phép lái xe hạng E số 6660126000461 mang tên Võ Văn T1

- 01 Giấy phép lái xe hạng A1, C số 6700077002029 mang tên Nguyễn Hiếu H.

- 01 Giấy phép lái xe hạng F C số 7901060005301 mang tên Phan Văn T.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 09 ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận giá trị tài sản của ô tô BS: 47B-028.28 là 154.649.181 đồng.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 10 ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận giá trị tài sản của ô tô BS: 51B-121.60 là 92.100.000 đồng.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 11 ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận giá trị tài sản của ô tô BS: 93C-176.15 là 2.600.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của 03 phương tiện giao thông trên là 249.349.181 đồng.

Cáo trạng số 81/CT-VKSPG ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn T từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba sáu) tháng. Hình phạt bổ sung: Không.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Phan Văn T 01 (một) giấy phép lái xe hạng hạng FC số [...] mang tên Phan Văn T.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

Trong phần tranh luận, bị cáo Phan Văn T cho rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

Trong lời nói sau cùng của bị cáo Phan Văn T: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo để có điều kiện lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố đã cung cấp lời khai và không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.

[3] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn T trình bày:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 20/02/2024, bị cáo Phan Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 50H-251.05 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R-132.89 lưu thông trên đường Đ theo hướng từ tỉnh Bình Phước đến Bình Dương. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương bị cáo điều khiển đi không đúng làn đường quy định (lấn trái sang làn đường dành cho xe ô tô con) và không giữ khoảng cách an toàn dẫn đến va chạm vào 03 xe ô tô tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 249.349.181đồng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm xe và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Bị cáo Phan Văn T được cấp giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 13 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Như vậy, Cáo trạng số 81/CT-VKSPG ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Dù không mong muốn hậu quả xảy ra, nhưng hành vi của bị cáo chính là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại về tài sản của các bị hại. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tài sản, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét đến những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, các bị hại có đơn xin bãi nại đối với bị cáo; bị cáo có cha và mẹ được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo Phan Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Ngoài ra, bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên HĐXX quyết định cho bị cáo được hưởng hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo, khuyến khích bị cáo tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ của gia đình và xã hội.

[7] Xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với hành vi, tính chất, tình tiết của vụ án và có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, nhân thân của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phan Văn T đã bồi thường cho các bị hại để khắc phục thiệt hại của xe ô tô biển số 47B-028.28, xe ô tô biển số 51B-121.60, xe ô tô biển số 93C-176.15. Các bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng của vụ án:

- 01 xe ô tô đầu kéo biển số 50H-251.05 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R-132.89 đây là tài sản của Công ty TNHH T4. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã giao trả tài sản trên cho bà Nguyễn Thị Hoàng U đại diện Công ty TNHH T4 nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.

- 01 xe khách biển số 47B-028.28 của ông Y La Wie Ê đứng tên chủ sở hữu cho Công ty TNHH D1 thuê để sử dụng kinh doanh. Công an huyện P trả lại cho Công ty TNHH D1 và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.

- 01 xe khách biển số 51B-121.60 của Hợp tác xã xe khách liên tỉnh Du lịch và dịch vụ Thống N. Công an huyện P trả lại cho Hợp tác xã xe khách liên tỉnh Du lịch và dịch vụ Thống N và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.

- 01 xe ô tô tải biển số 93C-176.15 đây là tài sản của ông Trần Văn T2. Công an huyện P trả lại cho ông T2 và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.

- 01 Giấy phép lái xe hạng E số [...] mang tên Nguyễn Hiếu H Công an huyện P trả lại cho ông H nên HĐXX không đặt ra xem xét.

- 01 Giấy phép lái xe hạng E số 6660126000461 mang tên Võ Văn T1. Công an huyện P trả lại cho ông T1 nên HĐXX không đặt ra xem xét.

- 01 Giấy phép lái xe hạng A1, C số 6700077002029 mang tên Tô Đồng N1 Công an huyện P trả lại cho ông N1 nên HĐXX không đặt ra xem xét.

- 01 (một) giấy phép lái xe hạng hạng FC số [...] mang tên Phan Văn T. Xét thấy, không cấm bị cáo hành nghề lái xe nên HĐXX trả lại cho bị cáo.

[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm d khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (30/8/2024).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Trả lại cho bị cáo Phan Văn T 01 (một) giấy phép lái xe hạng hạng FC số [...] mang tên Phan Văn T.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc: Bị cáo Phan Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Dương; (1)

- VKSND tỉnh Bình Dương; (1)

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; (1)

- PV06 Công an tỉnh Bình Dương; (1)

- VKSND huyện Phú Giáo; (1)

- Công an huyện Phú Giáo; (2)

- Chi cục THADS huyện Phú Giáo; (1)

- UBND xã Mỹ Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; (1)

- Những người tham gia tố tụng; (9)

- Lưu hồ sơ, VP. (2)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn T vi phạm giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger