Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày: 16/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Trần Quang Huyền

2. Ông: Trương Khánh Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lê Na - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt - Kiểm sát viên

Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Nhà văn hóa UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự đã thụ lý số: 82/2024/TLHS-ST ngày 26/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 02/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức C; Sinh ngày: 04/9/1994

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm T 14, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi tạm trú: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ở hiện tại: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Công nhân.

Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1957; Con bà: Đồng Thị H, sinh năm 1972.

Trú tại: xóm T 14, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Vợ: Hoàng Thị Thu P, sinh năm 1998 (đã ly hôn). Con: Có 01 con sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/4/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)

*. Bị hại:

1. Chị: Trịnh Thị L, sinh năm: 1984 (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Chị: Lê Thị T1, sinh năm: 1993 (Có mặt)

Địa chỉ: Xóm H, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

*. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh: Nguyễn Văn N, sinh năm: 1981 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm G, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Anh: Nguyễn Quốc H1, sinh năm: 2004 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm S, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Anh: Đỗ Văn H2, sinh năm: 1983 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm P, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Chị: Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm: 1997 (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
  5. Chị: Đồng Thị H, sinh năm: 1972 (Có mặt)
    Địa chỉ: Xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  6. Anh: Vũ Văn D, sinh năm: 1987 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
    Địa chỉ: T, TT H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau:

Do không có tiền để tiêu xài cá nhân, Nguyễn Đức C đã nảy sinh ý định điều khiển xe mô tô trên các tuyến đường của thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xem có ai sơ hở thì cướp giật tài sản đem bán. Trong khoảng thời gian từ 28/03/2024 đến ngày 01/4/2024, C đã thực hiện 02 vụ cướp giật trên địa bàn thị trấn H, huyện Đ, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ ngày 28/03/2024, C một mình điều khiển xe mô tô BKS 98M5-6409 (là xe Cương mượn của mẹ đẻ là bà Đồng Thị H) đi quanh khu vực thị trấn H mục đích để cướp giật tài sản của người khác. Khi C điều khiển xe mô tô đến chân dốc đoạn ngã ba thuộc tổ dân phố H, thị trấn H thì phát hiện thấy chị Lê Thị T1, (sinh năm 1993, trú tại xóm H, xã K, huyện Đ) một mình điều khiển xe đạp điện trên tay trái cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 màu vàng, có ốp lưng màu trắng đang nói chuyện điện thoại. C điều khiển xe mô tô đi theo sau chị T1, khi lên gần đến đỉnh dốc C điều khiển xe mô tô vượt lên phía bên trái xe đạp điện do chị T1 điều khiển rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động của chị T1 rồi tăng ga điều khiển xe mô tô bỏ chạy theo hướng xóm P, xã T, huyện Đ. Trên đường đi, C kiểm tra chiếc điện thoại, gỡ vỏ ốp điện thoại ra thì thấy bên trong có 01thẻ ngân hàng màu xanh và số tiền 540.000 đồng. C vứt chiếc thẻ ngân hàng và vỏ ốp điện thoại tại rìa bờ ruộng ở cạnh đường rồi điều khiển xe mô tô đến quán sửa chữa, mua bán điện thoại của anh Vũ Văn D, (sinh năm 1984 tại tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Đ) tháo sim của điện thoại vứt đi và đưa điện thoại cho anh D để chạy lại phần mềm của điện thoại. Sau đó C trả cho anh D 180.000 đồng bằng số tiền trong ốp điện thoại của chị T1. Sau đó C mang chiếc điện thoại di động trên và phòng trọ tại TDP C, thị trấn H, huyện Đ và đưa chiếc điện thoại trên cho Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1997 là bạn gái của C để sử dụng.

Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 01/04/2024 C tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS 98M5-6409 quanh khu vực TDP C, thị trấn H, huyện Đ xem có ai sơ hở thì cướp giật tài sản. Khi C đi đến đoạn trước cửa nhà văn hóa T2 thì C thấy chị Trịnh Thị L, (sinh năm 1984, trú tại TDP Sơn T, thị trấn H, huyện Đ) đang đi bộ một mình về hướng Bệnh viện Đ trên tay trái đang cầm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS Max màu vàng. Thấy vậy, C điều khiển xe mô tô áp sát chị L rồi dùng tay trái giật lấy chiếc điện thoại của chị L rồi tăng ga bỏ chạy. Sau đó C điều khiển xe mô tô về phòng trọ thì thấy lực lượng Công an truy tìm nên C điều khiển xe đi vào xã K và xã H để lẩn trốn. Sáng ngày 02/4/2024, C mang chiếc điện thoại trên đến quán sửa chữa, mua bán điện thoại của anh Đỗ Văn H2, (sinh năm 1983, trú tại xóm P, xã K, huyện Đ) nói với anh H2 là vừa nhặt được chiếc điện thoại và bán chiếc điện thoại trên cho anh H2 với giá 1.000.000 đồng. Sau đó C điều khiển xe mô tô đến quán sửa chữa xe máy của anh Nguyễn Văn N,( sinh năm 1981 tại xóm G, xã K, huyện Đ) để hàn bô ống xả xe mô tô vì bô xe bị thủng phát ra tiếng nổ to dễ bị phát hiện. Do không sửa được nên C đã lấy chiếc tô vít cậy ốp nhựa của BKS xe rồi cạo một phần sơn chữ số màu đen của BKS xe mô tô rồi đi về chuyển phòng trọ từ T3 đến thuê trọ tại TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ.

Sau khi bị C cướp giật mất điện thoại di động, chị T1 và chị L đã đến Công an thị trấn H trình báo, xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an thị trấn H đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số 22, 23 ngày 06/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 màu ghi, mua mới năm 2023 tại thời điểm tháng 03/2024 có giá trị là 1.000.000 đồng. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS Max màu vàng, loại 256GB, mua cũ năm 2023 tại thời điểm tháng 04/2024 có giá trị là 5.000.000 đồng.

Lời khai nhận tội của Nguyễn Đức C phù hợp với các tài liệu điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như đơn trình báo, biên bản sự việc, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T1 và chị L chiếc điện thoại bị C cướp giật. Chị T1 và chị L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì. Về phần dân sự: Chị L không có yêu cầu đề nghị gì. Chị T1 yêu cầu C bồi thường 540.000 đồng. Ngày 27/6/2024 bà Đồng Thị H là mẹ đẻ của C đã bồi thường cho chị T1 số tiền trên. Chị T1 đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho C.

Tại cáo trạng số 86/CT-VKSĐT ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Đức C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện VKSND huyện Đại Từ giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C mức án từ 04 năm đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 03/4/2024.

Về phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên miễm phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu N2; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu honda màu đỏ đen, loại mũ nửa đầu có kính; 01 chiếc gương xe mô tô màu đen; 01 đôi dép nhựa màu đen, trên dép ghi số 8; 01 áo khoác gió màu xanh-đen, trên cánh tay phải in chữ “FOXCONN”; 01 áo phông cộc tay bằng vải màu xanh; 01 quần đùi xám.

Trả lại cho bà Đồng Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu wave, màu sơn đen-xám, BKS: 98M5-6409, số khung: 044745, số máy: 8044745; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 0061865 mang tên Nguyễn Thị Hồng V, biển số đăng ký: 98M5-6409 quản lý sử dụng.

Trả lại anh Nguyễn Văn N 01 chiếc tô vít bằng kim loại có kích thước là 17,5cm, cán bọc bằng nhựa đã cũ rách (niêm phong ký hiệu N3)

Truy thu số tiền 1.000.000đ của bị cáo C phạm tội mà có.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Đức C đã nhiều lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác trên địa bàn thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, cụ thể như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 28/03/2024 tại TDP H, thị trấn H, huyện Đ. C đã điều khiển xe mô tô BKS 95M5-6409 giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 của chị Lê Thị T1 có giá trị 1.000.000 đồng rồi tăng ga bỏ chạy.

Khoảng 20 giờ ngày 01/04/2024 tại TDP C, thị trấn H, huyện Đ. C điều khiển xe mô tô BKS 95M5-6409 giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS Max của chị Trịnh Thị L có giá trị 5.000.000 đồng rồi tăng ga bỏ chạy.

Lời khai nhận của Nguyễn Đức C phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản xác định hiện trường, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Đức C đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định như sau:

  1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm.

[3]. Xét tính chất hành vi:

Xét về tính chất hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà trong vụ án này là chị Trịnh Thị L và chị Lê Thị T1. Hành vi đó không những làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương mà còn gây bất bình trong nhân dân nên cần xử lý nghiêm mới đảm bảo được tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” và “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị hại là chị Lê Thị T1 và chị Trịnh Thị L có đơn xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo, ông ngoại bị cáo được thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Xét về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo xuất thân từ gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đầy đủ nhận thức các việc làm đúng sai. Tuy nhiên do ham chơi đua đòi coi thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng, trật tự trị an xã hội mà còn gây bất bình trong nhân dân nên cần xử lý nghiêm.

[5]. Về hình phạt:

Căn cứ vào tình chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo C mức án từ 04 năm đến 05 năm tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên miễm hình phạt bổ sung cho bị cáo

[7]. Về vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu N2; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu honda màu đỏ đen, loại mũ nửa đầu có kính; 01 chiếc gương xe mô tô màu đen; 01 đôi dép nhựa màu đen, trên dép ghi số 8; 01 áo khoác gió màu xanh-đen, trên cánh tay phải in chữ “FOXCONN”; 01 áo phông cộc tay bằng vải màu xanh; 01 quần đùi xám.
  • Trả lại cho bà Đồng Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu wave, màu sơn đen-xám, BKS: 98M5-6409, số khung: 044745, số máy: 8044745; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 0061865 mang tên Nguyễn Thị Hồng V, biển số đăng ký: 98M5-6409 quản lý sử dụng.
  • Trả lại anh Nguyễn Văn N 01 chiếc tô vít bằng kim loại có kích thước là 17,5cm, cán bọc bằng nhựa đã cũ rách (niêm phong ký hiệu N3)
  • Truy thu số tiền 1.000.000đ của bị cáo C phạm tội mà có.

[8]. Liên quan trong vụ án có bà Đồng Thị H (là mẹ đẻ của bị cáo C) là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô BKS 98M5-6409. Anh Đỗ Văn H2 là người mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max mà C cướp giật được của chị L. Chị Nguyễn Thị Thúy K là người Cương đưa cho sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 mà Cương cướp giật được của chị T1. Quá trình điều tra xác định bà H không biết việc C sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi cướp giật tài sản. Anh H2, chị K không biết chiếc điện thoại di động trên do C phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT, Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với bà H, anh H2 và chị K.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 Điều 47 của BLHS; Điều 106 Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức C 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/4/2024.

2. Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo C.

3. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Đức C 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

4. Về vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu N2; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu honda màu đỏ đen, loại mũ nửa đầu có kính; 01 chiếc gương xe mô tô màu đen; 01 đôi dép nhựa màu đen, trên déo ghi số 8; 01 áo khoác gió màu xanh-đen, trên cánh tay phải in chữ “FOXCONN”; 01 áo phông cộc tay bằng vải màu xanh; 01 quần đùi xám.
  • Trả lại cho bà Đồng Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu wave, màu sơn đen-xám, BKS: 98M5-6409, số khung: 044745, số máy: 8044745; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 0061865 mang tên Nguyễn Thị Hồng V, biển số đăng ký: 98M5-6409 quản lý sử dụng.
  • Trả lại anh Nguyễn Văn N 01 chiếc tô vít bằng kim loại có kích thước là 17,5cm, cán bọc bằng nhựa đã cũ rách (niêm phong ký hiệu N3).
  • Truy thu số tiền 1.000.000đ của bị cáo C phạm tội mà có.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 75/QĐ-VKSĐT ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản)

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sở thẩm báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên (1b);
  • - Công an huyện Đại Từ (3b);
  • - VKSND huyện Đại Từ (1b);
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên (1b);
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ (1b);
  • - THAHS (2b);
  • - Thông báo cho UBND xã;
  • - Bị cáo (1b);
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Kao Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về cướp giật tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger