TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 85/2024/HS-ST Ngày: 29-05-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Phú
- Bà Hoàng Thị Kim Yến
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Chí Thành, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa:
Ông Lê Cao Hưng, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/HSST-QĐ ngày 21/05/2024 đối với bị cáo:
Trần Vĩnh T; sinh ngày: 19/06/1986 tại Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 20/60/2 N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở: Không có nơi ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Vĩnh T1 và bà Nguyễn Thị L; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 02/7/2015 bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh bắt đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc; Ngày 10/10/2017 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh bắt đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 18 tháng theo bản án số 132/95 ngày 12/12/2017; Ngày 17/8/2004, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù thay bản án số 151/HSST. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù với bản án số 75 ngày 16/4/2004, buộc T phải chấp hành 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí ngày 17/01/2006 (BL99); Ngày 27/7/2011, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 39 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 277/2011/HSST, đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí ngày 20/9/2012 (BL99); tạm giữ, tạm giam: 23/10/2023.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Bà Võ Thùy N, sinh năm 1999 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 4 Kênh A, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/10/2023, Trần Vĩnh T đi bộ đến trước nhà địa chỉ số E T, Phường A, quận T, T nhìn thấy xe mô tô hiệu Honda Wave S màu Đen - Xám biển số 59D2-946.47 của bà Võ Thùy N đang dựng ở lề đường trước nhà, chìa khóa xe vẫn cắm ở trên xe, không người trông coi. T liền đến ngồi lên xe gạt chống và mở khóa xe đề máy lấy trộm, lúc này bà N đang đứng bên trong nhà nhìn thấy T đang lấy trộm xe của mình nên chạy ra dùng tay nắm ở đuôi ba ga sau xe giữ lại và bị kéo ngã xuống đường, bà N buông tay ra, T điều khiển xe tẩu thoát về hướng đường T ra đường T, bà N tri hô “Cướp”, “Cướp”, lúc này ông Lê Thanh T2 đang đi trên đường T, Phường A, quận T nghe tri hô nên điều khiển xe mô tô đuổi theo T đến trước địa chỉ B Ú, Phường D, T, TP . thì đuổi kịp bắt giữ được T cùng tang vật giao Công an phường D, T xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Trần Vĩnh T đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tài sản bị chiếm đoạt: 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave S màu Đen - Xám biển số 59D2-946.47. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 011/KL-HĐĐGTS ngày 21/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T, Kết luận: Chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave S màu Đen - Xám biển số 59D2-946.47 của chị Võ Thùy N trị giá 5.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, đã khởi tố, điều tra với Trần Vĩnh T về hành vi Trộm cắp tài sản
Vật chứng vụ án:
- Đối với: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S màu Đen - Xám biển số 59D2-946.47 đã trả lại cho bị hại. (BL75).
- Đối với: 01 bộ trang phục bị can T sử dụng khi trộm cắp – Tạm nhập kho vật chứng.
- Đối với: 01 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận toàn bộ diễn biến hành vi trộm cắp xe gắn máy của bị can Trần Vĩnh T tại trước nhà số E T, Phường A, quận T vào ngày 23/10/2023 đã đính kèm hồ sơ vụ án
Tại Bản Cáo trạng số 77/CT-VKS-TB ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Trần Vĩnh T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo); đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Trần Vĩnh T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đề nghị xử lý trách nhiệm và các biện pháp tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt, để làm lại cuộc đời, chăm sóc bố mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Vĩnh T đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô có trị giá là 5.000.000 đồng. Do vậy, bị cáo Trần Vĩnh T bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng: Không có, nhưng bị cáo có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo phạm tội; do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ trang phục bị cáo T sử dụng khi trộm cắp (theo Quyết định chuyển vật chứng số 64/ QĐ-VKS.TB ngày 10/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Vĩnh T;
- Căn cứ Khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Tuyên bố: bị cáo Trần Vĩnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Vĩnh T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[2] Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ trang phục bị cáo T sử dụng khi trộm cắp (theo Quyết định chuyển vật chứng số 64/ QĐ-VKS.TB ngày 10/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình).
[3] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Vĩnh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án;
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thanh Hùng |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/10/2023, Trần Vĩnh Toàn đi bộ đến trước nhà địa chỉ số 54 Trương Công Định, Phường 14, quận Tân Bình, Toàn nhìn thấy xe mô tô hiệu Honda Wave S màu Đen - Xám biển số 59D2-946.47 của bà Võ Thùy Nhân đang dựng ở lề đường trước nhà, chìa khóa xe vẫn cắm ở trên xe, không người trông coi. Toàn liền đến ngồi lên xe gạt chống và mở khóa xe đề máy lấy trộm, lúc này bà Nhân đang đứng bên trong nhà nhìn thấy Toàn đang lấy trộm xe của mình nên chạy ra dùng tay nắm ở đuôi ba ga sau xe giữ lại và bị kéo ngã xuống đường, bà Nhân buông tay ra, Toàn điều khiển xe tẩu thoát về hướng đường Trương Công Định ra đường Trường Chinh, bà Nhân tri hô “Cướp”, “Cuớp”, lúc này ông Lê Thanh Tâm đang đi trên đường Trương Công Định, Phường 14, quận Tân Bình nghe tri hô nên điều khiển xe mô tô đuổi theo Toàn đến trước địa chỉ 2B Út Tịch, Phường 4, Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh thì đuổi kịp bắt giữ được Toàn cùng tang vật giao Công an phường 4, Tân Bình xử lý.
