Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-PT

Ngày 28 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chuyền

Các Thẩm phán: Bà Triệu Thị Luyện

Bà Nguyễn Thị Hương Giang

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc

- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 28/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 25/TLPT-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo Trần Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 140/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, S năm 1988; Tên gọi khác: Không; Sinh, trú quán: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam;Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Bố đẻ: Trần Đức T1; Mẹ đẻ: Bùi Thị D; Vợ: Hoàng Thị T2; Con: Có 02 (hai) con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 13/7/2023 đến ngày 21/7/2023, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ ngày 12/7/2023 Trần Văn T, sinh năm 1988, trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngồi uống rượu một mình ở nhà, uống đến khoảng 02 giờ cùng ngày thì T dừng lại không uống nữa. Lúc này T nghe thấy có nhiều tiếng xe máy và tiếng người nói chuyện đi qua nhà T. T đoán nhóm người này gồm anh Nông Văn T3, trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng với những người khác đi vào đồi vải nhà anh T3,cách nhà T khoảng 400 mét để bẻ vải. Do trước đó T tình nghi ngờ anh T3 có quan hệ bất chính với vợ T là chị Hoàng Thị T2 nên T đã nảy sinh ý định gây thương tích cho anh T3. T đi xuống bếp lấy 01 con dao bằng kim loại (loại dao bầu) dài khoảng 20 cm, một đầu nhọn màu đen, có cán gỗ. Sau đó T cầm dao đi bộ vào vườn vải nhà anh T3. Khi đến đồi vải nhà anh T3, T nghe thấy tiếng anh T3 đang nói chuyện nên xác định được vị trí của anh T3. T để dép ở bên dưới và đi chân đất lên chỗ anh T3, lúc này anh T3 đang đứng bẻ vải thì T tiến đến sát vị trí anh T3 đứng và cầm con dao bằng tay phải đâm về phía anh T3 nhiều nhát, trong đó có 02 nhát trúng vào vùng bẹn và 01 nhát trúng vào vùng thắt lưng anh T3 làm anh T3 bị ngã xuống đất. Lúc này anh T3 phát hiện thấy T đang cầm dao đứng ở đó nên anh T3 đã bỏ chạy xuống phía dưới chân đồi.T không đuổi theo anh T3 nữa mà bỏ chạy theo hướng khác, trên đường bỏ chạy T đã vứt con dao dùng để đâm anh T3 đi nhưng không nhớ cụ thể vứt ở vị trí nào. Sau đó do sợ người nhà anh T3 sẽ tìm đánh nên T không về nhà mà đi bộ ra đường Q rồi đi nhờ xe của những người đi đường đến đường C - Lạng Sơn. Tại đây T tiếp tục đi nhờ xe ô tô tải của anh Giáp Văn D1, sinh năm 1986, trú quán; Thôn M, xã T, huyện L để đến tỉnh Lạng Sơn. Trên đường đi T kể cho anh D1 và anh Giáp Văn V, sinh năm 2000,trú quán; Thôn M, xã T, huyện L là người đi cùng xe ô tô về việc T dùng dao đâm anh T3. Thấy vậy anh D1 đuổi T xuống không cho đi nhờ xe nữa. Đối với anh Nông Văn T3 sau khi bị T đâm gây thương tích, anh T3 bỏ chạy xuống chân đồi vải và gọi điện thoại cho gia đình đến đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện L. Cùng ngày 12/7/2023 anh Nông Văn T3 có đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đề nghị giải quyết. Sau khi tiếp nhận đơn trình báo của anh T3,Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xảy ra sự việc, lập bản ảnh, vẽ sơ đồ, quá trình khám nghiệm thu giữ 01 đôi dép nhựa màu đen.

Hồi 14 giờ 45 phút ngày 12/7/2023 Trần Văn T đến Công an xã T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Ngày 26/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Trần Văn T xác định vị trí T lấy con dao sử dụng đâm gây thương tích cho anh T3 và vị trí nơi T dùng dao đâm anh T3.

Tại biên bản làm việc với Trung tâm y tế huyện L hồi 8 giờ 45 phút ngày 13/7/2023 và Bệnh án điều trị của anh tâm tại Trung tâm y tế huyện L xác định: anh Nông Văn T3 vào viện hồi 04 giờ 16 phút ngày 12/7/2023, ra viện ngày 18/7/2023, tình trạng thương tích lúc vào viện: Vùng danh giới giữa bẹn và hố chậu trái có 02 vết thương, mỗi vết hở dài khoảng 3,5cm, bờ sắc gọn, không có dị vật;Vùng thắt lưng hông phải có 01 vết thương hở dài khoảng 03cm, bờ sắc gọn; Bụng mềm không chướng, gan lách không to. Ngực khung chậu vững.

Ngày 13/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định đối với thương tích của anh Nông Văn T3. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1553 ngày 13/7/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:Thương tích vết vùng bẹn trái kích thước (3,5x0,1)cm: 01%; Thương tích vết vùng bẹn trái kích thước (3,5x0,1)cm: 01%; Thương tích vết vùng thắt lưng hông phải kích thước nhỏ: 01%. Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nông Văn T3 tại thời điểm giám định là: 03%.

Ngày 20/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung về tỷ lệ % thương tích của anh Nông Văn T3; các thương tích của anh T3 có phải vùng trọng yếu trên cơ thể không, có thể dẫn đến hậu quả chết người không. Tại Bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 1564/23/KLTTCT – TTPY ngày 201/7/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

  • - Thương tích vết thương đóng vẩy khô đang liền sẹo vùng bẹn trái kích thước (4x0,3)cm:2%
  • - Thương tích vết thương đóng vẩy khô đang liền sẹo vùng bẹn trái kích thước (4x0,3)cm: 1%
  • - Thương tích vết thương đóng vẩy khô đang liền sẹo vùng thắt lưng hông phải kích thước (5x0,2)cm: 1%
  • - Thương tích vết mổ dẫn lưu đóng vẩy khô đang liền sẹo vùng thắt lưng hông phải kích thước (4x0,3)cm: 1%

Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nông Văn T3 tại thời điểm giám định là: 05%, áp dụng phương pháp cộng tại thông tư. Xác định vùng trọng yếu trên cơ thể gây hậu quả chết người hay không, không thuộc lĩnh vực của pháp y.

Ngày 08/8/2023 Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra theo lời khai của Trần Văn TNông Văn T3.

Căn cứ kết quả thực nghiệm, ngày 15/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung đối với thương tích của anh Nông Văn T3 theo các tình huống thực nghiệm điều tra. Tại bản Kết luận giám định bổ sung số 1621 ngày 21/8/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Dựa vào hồ sơ, tài liệu; Biên bản thực nghiệm điều tra; Bản ảnh thực nghiệm điều tra; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can kết luận: Không xác định chiều hướng gây thương tích. Cơ chế hình thành thương tích của anh Nông Văn T3 do vật sắc nhọn gây nên. Theo tình huống thực nghiệm điều tra của anh Nông Văn T3 thì Trần Văn T dùng dao đâm gây được thương tích cho anh T3. Theo tình huống thực nghiệm điều tra của anh Trần Văn T thì Trần Văn T dùng dao gây được thương tích cho anh T3. Thương tích của anh Nông Văn T3 do vật sắc nhọn gây nên. Dùng dao gây được thương tích cho anh T3.

Đối với con dao bị cáo Trần Văn T dùng đâm gây thương tích cho anh T3, quá trình điều tra T khai trên đường bỏ chạy đã vứt đi nhưng không nhớ cụ thể vứt ở vị trí nào. Ngày 01/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định truy tìm, tuy nhiên hiện chưa tìm thấy.

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 140/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn đã quyết định:

1. Căn cứ vào điểm a, i, khoản 1 Điều 134; Điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn Tình từ 09 (chín) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/7/2023 đến 21/7/2023.

2. Về bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; 585; 589; 590 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn T phải bồi thường tiếp cho anh Nông Văn T3 số tiền 7.089.000đồng (Bẩy triệu không trăm tám chín nghìn đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ngày 29/11/2023, bị cáo Trần Văn T kháng cáo phần hình phạt của bản án sơ thẩm với đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Trần Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo nộp thêm tài liệu chứng cứ là biên lai thu tiền án phí HSST, án phí DSST, biên lai thu tiền bồi thường 7.089.000 đồng cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Sau khi phân tích tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Văn T. Bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đại diện Viện kiểm sát Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về xin hưởng án treo. Do bị cáo có nhiều tính tiết giảm nhẹ nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đề nghị tuyên phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo nộp đơn kháng cáo đến Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang trong hạn luật định theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét, giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn T thấy: Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như quyết định của bản án sơ thẩm là đúng, không oan. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản thực nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo với mức án 09 tháng tù là phù hợp, tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo đã nộp số tiền 7.893.000 đồng là tiền án phí HSST, án phí DSST và bồi thường cho bị hại, đây tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt thì thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, do vậy, cần giảm nhẹ hình phạt tù của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo thấy: Bị cáo đã có hành vi côn đồ dùng 01 con dao bằng kim loại, có cán bằng gỗ, loại dao bầu (là hung khí nguy hiểm) đâm gây thương tích ở vùng bẹn trái và thắt lưng phải của anh T3. Hậu quả gây thương tích cho anh T3 05% sức khỏe. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ; quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả. Mặc dù, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ, theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/01/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì không đủ điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo là có căn cứ.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T về xin hưởng án treo. Sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

  1. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2023 đến ngày 21/7/2023.
  2. Về bồi thường dân sự: Bị cáo Trần Văn T phải bồi thường tiếp cho anh Nông Văn T3 số tiền 7.089.000 đồng.

Xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền 7.893.000 đồng gồm bồi thường cho bị hại, án phí HSST, án phí DSST theo biên lai thu số 0002764 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

  1. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HСТР.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Chuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-PT ngày 28/05/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về hình sự phúc thẩm về tội "cố ý gây thương tích"

  • Số bản án: 85/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội "Cố ý gây thương tích"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Tình "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger