Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày 20-06-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà

Ông Nguyễn Xuân Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trâm- Thư ký Tòa án nhân dân

quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà

Lê Thị Bích Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

La Thị B; tên gọi khác: T, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1987 tại Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: Tổ B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nơi ở hiện tại: K161 Mẹ Suốt, tổ C phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Văn T1, sinh năm: 1969 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1967; Chồng Huỳnh Văn C, sinh năm: 1984; Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2005 và nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1976. Địa chỉ: A T, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Văn C, sinh năm: 1984. Địa chỉ: K Mẹ Suốt, tổ C phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Nguyễn Thị T2 và La Thị B đều là nhân viên tại nhà hàng G, địa chỉ A8.2 lô 1, 2 đường 2 Tháng 9, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Khoảng 08 giờ ngày 19/02/2024, bà T2 đến nhà hàng làm việc, có để một ví tiền màu xám bên trong có 8.500.000 đồng trong tủ đựng đồ cá nhân ở tầng hầm. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, La Thị B xuống tầng hầm để lấy đồ thì phát hiện tủ đồ của bà T2 không bóp ổ khóa, B nảy sinh ý định trộm cắp nên mở tủ xem, Bé mở ví thấy một xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng nên đã rút được 6.500.000 đồng cất vào túi quần rồi bóp khóa lại. Bé lấy 1.500.000 đồng trả nợ cho chị Đ (chưa xác định lai lịch, ở đường N), còn 5.000.000 đồng cất giấu trong ví.

Vật chứng thu giữ: 5.000.000 đồng gồm 10 tờ tiền polime mệnh giá 500.000 đồng, B nhờ chồng là ông Huỳnh Văn C giao nộp.

Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 21/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo La Thị B về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo La Thị B từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo La Thị B thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày: Ông Huỳnh Văn C xác nhận lời khai của bị cáo B là đúng. Ông Huỳnh Văn C không biết gì về hành vi phạm tội của B.

Bị cáo La Thị B nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong HĐXX xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Vào khoảng 09 giờ ngày 19/02/2024, tại nhà hàng G, địa chỉ A8.2 lô 1, 2 đường 2 Tháng 9, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, La Thị B có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị T2 số tiền 6.500.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo La Thị B đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo La Thị B là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì thấy: La Thị B là người có sức khỏe lao động, giữa Bé và bà T2 có quan hệ quen biết cùng làm chung chỗ nhưng vì ham muốn nhất thời có tiền để sử dụng cá nhân nên B đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. La Thị B đã lợi dụng sơ hở của người bị hại quên khoá tủ bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị T2. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử bị cáo mức hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng: Không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phát hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên khi quyết định mức hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, i, h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Hội đồng xét xử xét thấy La Thị B có nơi cư trú rõ ràng và không cần thiết phải xử cách ly ra khỏi xã hội bắt chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho các bị cáo cải tạo không giam giữ, giao địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng thỏa đáng. Bị cáo B hiện công việc và thu nhập không ổn định nên HĐXX không khấu trừ thu nhập để sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo La Thị B.

Đối với Huỳnh Văn C được Bé nhờ lấy tiền Bé cất trong ví giao nộp cho CQĐT nhưng không biết việc phạm tội của Bé nên CQĐT CA quận H không xử lý là có căn cứ.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra, La Thị B đã bồi thường số tiền 6.500.000 đồng cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo La Thị B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: La Thị B 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo La Thị B về Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng giám sát giáo dục. Gia đình La Thị B có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, quận L trong việc giám sát, giáo dục. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo La Thị B không bị khấu trừ thu nhập để sung quỹ Nhà nước nhưng phải thực hiện những nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

3. Về án phí: Bị cáo La Thị B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - CA quận Hải Châu;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: La Thị Bé trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger