Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 85/2024/DS-ST

Ngày: 19/7/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng dân

sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Phan Thị Nga;
  2. Ông Nguyễn Văn Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 378/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 319/20024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 304/2024/QĐHPT ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị H (Tư Đ), sinh năm 1954; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang: địa chỉ liên lạc: D, ấp D, xã T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bà Bùi Thị H (T) ủy quyền cho anh Đỗ Hoàng Đ1, sinh năm 1983; địa chỉ: D7/206A T, ấp D, xã T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh. Theo văn bản ủy quyền ngày 02.01.2024 đã được Văn phòng C ngụ số E N, khu phố E, thị trấn T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh chứng thực; có mặt.

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T (Lê T1), sinh năm 1949; địa chỉ: số C, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
  4. Bà Trương Thị Mỹ L, sinh năm 1970; địa chỉ: số D, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.

    Bà Võ Thị Thùy L1, sinh năm 1987; địa chỉ: số C, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Bùi Thị H ủy quyền cho ông Đỗ Hoàng Đ1 trình bày: Do chổ quen biết với bà L, bà T1, bà L1 nên bà H có cho bà L, bà L1, bà T1 vay 02 lần tiền cụ thể như sau:

- Lần 01 vào ngày 19/11/2011 (al) bà H có cho bà T1, bà L1, bà L vay số tiền 200.000.000 đồng, mục đích vay để làm ăn, hai bên thỏa thuận lãi suất 5%/tháng không ghi trong biên nhận nhưng chỉ thỏa thỏa thuận miệng, không hẹn thời gian trả (hai bên có làm biên nhận) sau đó bà T1, bà L1, bà L không đóng lãi, nhưng vào ngày 10/04/2022 (al) bà L có trả cho bà H được 100.000.000 đồng đến nay thì không trả vốn và không đóng lãi. Nay bà H yêu cầu bà bà T1, bà L1, bà L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà H số tiền còn lại là 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

- Lần 02: Vào ngày 02/12/2021 (al) bà bà T1, bà L, bà L1 vay của bà H số tiền 200.000.000 đồng, mục đích vay để làm ăn, hai bên thỏa thuận lãi suất 5%/tháng không ghi trong biên nhận nhưng chỉ thỏa thuận miệng, không hẹn thời gian trả (hai bên có làm biên nhận) sau đó bà T1, bà L, bà L1 cũng không đóng lãi và cũng không trả vốn, thời gian lâu bà H có đến nhà bà T1, bà L, bà L1 để đòi số nợ trên nhưng bà T1, bà L, bà L1 vẫn không thực hiện. Nay, bà H khởi kiện yêu cầu bà L bà T1, bà L1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà H số tiền 200.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 01/01/2022 (dl) cho đến khi xét xử sơ thẩm.

Tại tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn Trương Thị Mỹ L trình bày: Đối với yêu cầu của bà H thì bà không đồng ý, vì bà là người trực tiếp nhận tiền từ bà H, bà sử dụng tiền vay của bà H với mục đích riêng của bà dùng trong sinh hoạt hàng ngày, lý do có thể hiện chữ ký của bà T1, bà L1 là do bà H yêu cầu bà T1, bà L1 ký với tư cách là người chứng kiến vì bà H đem tiền tại nhà bà T1, bà L1 để cho bà mượn vì bà ở bên Đồng Tháp. Nay bà cũng đồng ý trả cho bà H tổng cộng hai biên nhận nợ bà ký nhận là 300.000.000 đồng, bà không đồng ý trả số tiền lãi vì bà đã đóng lãi cho bà H với mức lãi suất 5%/tháng quá nhiều nên bà không có khả năng đóng tiếp (việc đóng lãi không có làm giấy tờ do chổ quen biết). Cho bà xin trả dần mỗi năm 50.000.000 đồng cho đến khi dứt số tiền 300.000.000 đồng.

Bà không đồng ý với yêu cầu của bà H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết buộc bà “L1” Võ Thị Thùy L1, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ liên đới cùng bà trả số tiền vay 300.00.000 đồng vì bà H yêu cầu ký với tư cách là người chứng kiến, bà không nghĩ là bà H yêu cầu bà T, bà L1 ký là người nhận tiền để sau này bà H yêu cầu cùng có nghĩa vụ liên đới với bà để trả số nợ cho bà H.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình (bản sao); biên nhận nợ (bản sao).

- Bà Nguyễn Thị T, bà Võ Thị Mỹ L2 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Đại diện ủy quyền cho nguyên đơn bà Bùi Thị H là ông Đỗ Hoàng Đ1 đã cung cấp các tài liệu chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; không còn tài liệu, chứng cứ nào khác.

- Bị đơn bà Trương Thị Mỹ L không có ý kiến gì bổ sung.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị T, bà Võ Thị Thùy L1 vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến giải quyết vụ án:

Do chỗ quen biết nên bà Bùi Thị H có cho bà T, L, L1 vay tiền. Cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 19/11/2011 (âm lịch) bà Nguyễn Thị T cùng Trương Thị Mỹ L (con gái ruột bà T) và Võ Thị Thùy L1 (con dâu bà T) có vay của bà H 200.000.000 đồng, thỏa thuận miệng lãi suất là 5% /tháng, việc vay mượn tiền có làm biên nhận ngày 19/11/2011 (âm lịch) hai bên đồng ý và ký tên trong đó, bà L là người đứng tên trong biên nhận (bà T, bà L1 không đứng tên trong biên nhận, nhưng ký tên), không hẹn thời gian trả. Ngày 10/4/2022 (âm lịch) bà L có trả cho bà H 100.000.000 đồng. Từ khi vay đến nay bà T, bà L và bà L1 không trả lãi theo thỏa thuận. Nay, yêu cầu bà T, bà L1, bà L trả 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Lần 2: Ngày 02/12/2021(âm lịch) bà Nguyễn Thị T cùng Trương Thị Mỹ L (con gái ruột bà T) có vay của bà H 200.000.000 đồng, thỏa thuận miệng lãi suất là 5% /tháng, việc vay mượn tiền có làm biên nhận ngày 02/12/2021 (âm lịch) hai bên đồng ý và ký tên trong đó, bà L là người đứng tên trong biên nhận (bà T không đứng tên trong biên nhận, nhưng ký tên), không hẹn thời gian trả. Nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện việc trả lãi. Từ khi vay đến nay bà T, bà L không trả lãi theo thỏa thuận. Nay, yêu cầu bà T, bà L trả 200.000.000 đồng, tính lãi suất theo quy định của pháp luật, từ ngày 02/12/2021 đến ngày xét xử.

Phía bà T, bà L1 nhận được Thông báo thụ lý của Tòa án biết được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện này.

Phía bà L thừa nhận số nợ 300.000.000 đồng. Trong đó 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi theo biên nhận 19/11/2011; 200.000.000 đồng theo biên nhận ngày 02/12/2021 và tính lãi suất theo quy định, Bà L đồng ý trả cho bà T.

Xét thấy, căn cứ bà H khởi kiện là biên nhận nợ ngày 19/11/2011 (âm lịch), có nội dung “bà L có mượn bà Tư Đ số tiền 200.000.000 đồng, tại phần người nhận thể hiện chữ ký viết tên của bà L, chữ ký viết tên của bà T, chữ ký viết tên của bà L1”; biên nhận nợ ngày 02/12/2021 (âm lịch), có nội dung “bà L có mượn bà Tư Đ số tiền 200.000.000 đồng, tại phần người nhận thể chữ ký viết tên của bà L, chữ ký viết tên của bà T” và biên nhận ngày 10/4/2022, có nội dung “bà H có nhận từ bà L 100.000.000 đồng”. Phía bà H cho rằng bà T, bà L và bà L1 cùng trực tiếp vay tiền của bà theo các biên nhận trên.

Tuy nhiên, qua xem xét đánh giá các chứng cứ do bà H cấp cung, thấy rằng người trực tiếp viết biên nhận và giao dịch vay tiền với bà H là bà L, cho thấy rằng hợp đồng vay được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận và chính bà L là người đã trực tiếp giao trả số tiền 100.000.000 đồng cho bà H (theo biên nhận ngày 10/4/2022). Quá trình thực hiện, do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán và quá trình tố tụng, bà L đồng ý trả bà H số tiền nêu trên nên việc bà H khởi kiện yêu cầu bà L trả 300.000.000 đồng là có căn cứ phù hợp Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự. Riêng, bà T có quan hệ là mẹ của bà L, bà L1 là dâu bà T, như đã phân tích trên, các đương sự này không trực tiếp giao dịch và nhận tiền từ bà H nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà H.

Về yêu cầu tính lãi suất: Bà H yêu cầu tính tiền lãi theo mức lãi suất quy định của pháp luật theo biên nhận nợ ngày 02/12/2021 đối với số tiền 200.000.000 đồng, kể từ ngày 01/01/2022(dl) đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm.

Xét thấy, do bà L vi phạm nghĩa vụ trả tiền vay nên bà còn có nghĩa vụ trả tiền lãi trên số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 357, Điều 466 Bộ luật Dân sự. Bà H cho rằng khi vay có thỏa thuận lãi suất là 5%/tháng nhưng chỉ thỏa thuận bằng miệng. Nhận thấy, căn cứ vào Giấy nhận nợ ngày 02/12/2021âl, khi vay hai bên không thỏa thuận về lãi suất, nên áp dụng mức lãi suất theo quy định của pháp luật để tính lãi suất trên số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng (theo khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự).

Đối với yêu cầu tính lãi suất theo quy định, do bà L chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà H nên bà H yêu cầu tính lãi suất kể từ ngày 01/01/2022 (dl) đến khi xét xử sơ thẩm là phù hợp Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự:

  • - Công nhận hợp đồng vay tài sản giữa bà Bùi Thị H với bà Trương Thị Mỹ L.
  • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H đối với bà Trương Thị Mỹ L trả số tiền 300.000.000 đồng. Trong đó 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi theo biên nhận 19/11/2011; 200.000.000 đồng theo biên nhận ngày 02/12/2021 và tính lãi suất theo quy định.
  • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H đối với bà Nguyễn Thị T, bà Võ Thị Thùy L1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay 300.000.000 đồng (theo 02 biên nhận ngày 19/11/2011 và 02/12/2021) và lãi suất theo quy định.
  • - Buộc bà Trương Thị Mỹ L trả số tiền 300.000.000 đồng cho bà Bùi Thị H. Trong đó 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi theo biên nhận 19/11/2011; 200.000.000 đồng theo biên nhận ngày 02/12/2021 và tính lãi suất theo quy định kể từ ngày 02/12/2021(âl) đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng:

  1. [1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Bùi Thị H yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị T, bà Võ Thị Thùy L1, bà Trương Thị Mỹ L có nghĩa vụ trả cho bà số tiền vay 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Bà Nguyễn Thị T, bà Võ Thị Thùy L1, bà Trương Thị Mỹ L có nơi cư trú ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở bà Nguyễn Thị T, bà Võ Thị Thùy L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung:

  1. [3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:
  2. Qua lời khai và lời trình bày của ông Đ1 là người đại diện ủy quyền cho bà Bùi Thị H tại các biên bản hòa giải, các tài liệu chứng cứ cung cấp và qua quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định, vào ngày 19/11/2011 (al) bà H có cho bà T, bà L1, bà Lệ L3, bà L vay số tiền 200.000.000 đồng và ngày 02/12/2021 (al) bà bà T, bà L, bà L3 vay của bà H số tiền 200.000.000 đồng, hai bên có làm biên nhận nợ với nhau, hai bên chỉ thỏa thuận miệng lãi suất 5%, sau đó bà H có trả được 100.000.000 đồng nhưng không đóng lãi, bà H có đến gặp bà L, bà T, bà L3 yêu cầu trả nhưng các bà cứ hẹn mà vẫn không thực hiện. Nay bà H yêu cầu bà T, bà L3, bà L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền vay 300.000.000 đồng và yêu cầu tiền lãi theo quy định pháp luật cho đến khi xét xử sơ thẩm.

    Xét thấy việc vay mượn giữa các bên được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, và phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì bà L là người trực tiếp nhận tiền còn đối với bà T, bà L3 tuy là người ký tên người nhận tiền nhưng nội dung không thể hiện là bà T, bà L3 nhận tiền. Trong quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa bà L vẫn thừa nhận bà trực tiếp nhận tiền và ký nhận với nội dung là người nhận tiền, bà cho rằng tuy bà T, bà L3 ký nhận là do yêu cầu của bà H, vì bà H đem tiền tại nhà bà T, còn bà L3 là dâu bà T ở chung nhà bà T nên bà H yêu cầu ký nhưng ký với tư cách là người chứng kiến. Bà T, bà L3 vắng mặt và cũng không gửi ý kiến trình bày để Hội đồng xét xử xem xét, ông Đ1 xuất trình chứng cứ là các biên nhận tiền.

  3. [4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nghĩa vụ trả nợ của bị đơn:
  4. Bà H khởi kiện yêu cầu bà T, bà L3, bà L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền vốn vay 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).

    Đối với nghĩa vụ trả nợ của bị đơn: Từ khi vay đến nay bà L có trả được cho bà H là 100.000.000, số tiền còn lại mặc dù bà H có yêu cầu nhiều lần.

    Đối với nghĩa vụ trả nợ của bị đơn là bà L, bà L3, bà T thì Hội đồng xét xử nhận định. Qua lời khai của bà L thì bà vẫn thừa nhận bà là người trực tiếp nhận tiền và ký nhận với nội dung là người nhận tiền, bà cho rằng tuy bà T, bà L3 ký nhận là do yêu cầu của bà H, vì bà H đem tiền tại nhà bà T, còn bà L3 là dâu bà T ở chung nhà bà T nên bà H yêu cầu ký nhưng ký với tư cách là người chứng kiến, bà T, bà L3 không có nhận tiền từ bà H.

    Trong quá trình làm việc và cũng như tại phiên tòa ông Đ1 là người đại diện ủy quyền cho nguyên đơn cũng không đưa ra được chứng cứ nào khác để chứng minh thể hiện là bà T, bà L3 là người trực tiếp nhận tiền từ bà H, bà L vẫn thừa nhận là chỉ riêng bà là người trực tiếp nhận tiền từ bà H. Vì vậy đối với yêu cầu của bà H yêu cầu bà L3, bà T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền 300.000.000 đồng là không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

    Từ những cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của ông Đ1 là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn và lời trình bày của bà L và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc bà L có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền vay là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.

  5. [5] Về lãi suất: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa ông Đ1 yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật trên số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) từ ngày 01/01/2022 cho đến khi xét xử sơ thẩm. Do đó số tiền được tính như sau:
  6. Số tiền vốn vay là 200.000.000 đồng. Ngà y 01/01/2022 đến ngày 19/7/2024 là 930 ngày x lãi suất 20%/năm = 103.333.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 300.333.000 đồng.

  7. [6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
  8. Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Trương Thị Mỹ L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

    Bà Bùi Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều:

Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235, và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H.
  2. Buộc bà Trương Thị Mỹ L có nghĩa vụ trả cho bà Bùi Thị H số tiền vốn vay là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) và số tiền lãi là 103.333.000 đồng (một trăm lẽ ba triệu ba trăm ba mươi ba ngàn đồng). Tổng cộng vốn và lãi là 400.333.000 đồng (bốn trăm triệu ba trăm ba mươi ba ngàn đồng).

    Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H yêu cầu bà Nguyễn Thị T, bà Võ Thị Thùy L1 có nghĩa vụ trả cho bà Bùi Thị H số tiền vốn vay là 300.000.000 đồng số tiền lãi là 103.333.000 đồng (một trăm lẽ ba triệu ba trăm ba mươi ba ngàn đồng). Tổng cộng vốn và lãi là 400.333.000 đồng (bốn trăm triệu ba trăm ba mươi ba ngàn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Bà Trương Thị Mỹ L phải chịu 20.013.000 đồng (hai mươi triệu không trăm mười ba ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Bùi Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do bà H thuộc trường hợp người cao tuổi, bà có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, do đó bà không được nhận lại án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Vũ Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 85/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger