Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/DS-ST

Ngày 18-6-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Long.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh;

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thuỳ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 896/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 717/2024/QÐST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.

Trụ sở: Tháp B1 - A T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Nguyễn Mỹ D, sinh năm 1997.

Địa chỉ: B Cách mạng tháng T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền ngày 10/4/2024). (Vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Châu Chí D1, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị Phương T1, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số B, đường số C, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bà Trần Nguyễn Mỹ D đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ trình bày:

Ngày 24/02/2022, Ngân hàng TMCP Đ (B1) và vợ chồng ông Châu Chí D1 – bà Nguyễn Thị Phương T1 ký hợp đồng tín dụng số: 78/2022/16810743/HĐTD. Theo hợp đồng: ông D1, bà T1 vay B1 số tiền 6.000.000.000 đồng để hoàn vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; thời hạn vay 360 tháng; lãi suất 9,5%/năm trong vòng 12 tháng, sau 12 tháng áp dụng lãi suất = Lãi suất tiết kiệm trả sau VND kỳ hạn 24 tháng + 4,7%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.

Tài sản thế chấp bảo đảm khoản vay: Ông D1, bà T1 và B1 ký hợp đồng thế chấp bất động sản số: 78/2022/16810743/HĐTC, được Văn phòng C số: 000986, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/02/2022. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtvới diện tích đất 144,3 m², thửa đất số 1419, tờ bản đồ số 10, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, trên đất có nhà cấp 3, diện tích xây dựng 112,79m², diện tích sàn 312,59 m², được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DD 487082, số vào sổ cấp GCN: CS 01775 ngày 27/01/2022 cho ông Phùng Hùng N và bà Đặng Thị B đứng tên, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ xác nhận chuyển nhượng cho ông Châu Chí D1 ngày 10/02/2022. Tài sản thế chấp được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B2 xác nhận đăng ký thế chấp ngày 24/02/2022.

Ngày 24/02/2022, ông D1 và bà T1 đã nhận đủ số tiền vay 6.000.000.000 đồng nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho B1. Khoản vay của ông D1, bà T1 đã quá hạn từ ngày 15/3/2023 nhưng đến nay ông D1 và bà T1 chỉ trả cho B1 số tiền 830.291.635 đồng (250.050.000 đồng nợ gốc và 580.241.635 đồng nợ lãi). Tính đến ngày 18/6/2024, ông D1 và bà T1 còn nợ B1 tổng số tiền 6.603.817.794 đồng (trong đó: nợ gốc là 5.749.950.000 đồng, lãi là 803.772.748 đồng, phí trả chậm là 50.095.046 đồng).

B1 khởi kiện yêu cầu ông D1, bà T1 trả tổng số tiền tính đến ngày 18/6/2024 là 6.603.817.794 đồng (trong đó: nợ gốc là 5.749.950.000 đồng, lãi là 803.772.748 đồng, phí trả chậm là 50.095.046 đồng) và tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh từ ngày 19/6/2024 cho đến khi trả hết nợ vay. Tài sản thế chấp tại hợp đồng thế chấp bất động sản số: 78/2022/16810743/HĐTC, được Văn phòng C số: 000986, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/02/2022 được bảo đảm thi hành án.

Quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, bị đơn ông Châu Chí D1 và bà Nguyễn Thị Phương T1 trình bày.

Ông D1, bà T1 thống nhất với trình bày của B1 về việc ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và nội dung thỏa thuận tại hợp đồng. Ông D1, bà T1 đã nhận đủ số tiền vay 6.000.000.000 đồng, đã trả cho B1 số tiền 830.291.635 đồng (250.050.000 đồng nợ gốc và 580.241.635 đồng nợ lãi). Tính đến ngày 05/12/2023, ông D1, bà T1 nợ B1 số tiền 6.260.796.228 đồng (nợ gốc là 5.749.950.000 đồng, nợ lãi là 498.663.072 đồng, phí trả chậm là 12.183.156 đồng). Ông D1, bà T1 đề nghị B1 giảm lãi và cơ cấu khoản vay mới để tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • Buộc ông Châu Chí D1 và bà Nguyễn Thị Phương T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền tính đến ngày 18/6/2024 là 6.603.817.794 đồng. Kể từ ngày 19/6/2024, ông Châu Chí D1 và bà Nguyễn Thị Phương T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
  • Tài sản thế chấp bảo đảm thi hành án là: Quyền sở hữu nhà ở diện tích xây dựng 112,79m², diện tích sàn 312,59m², cấp: 3 gắn liền với quyền sử dụng đất diện tích 144,3m², thửa đất số 1419, tờ bản đồ 10, tọa lạc tại xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Về án phí: Ông Châu Chí D1 và bà Nguyễn Thị Phương T1 phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông D1, bà T1 cư trú tại số B, đường số C, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
  • Về việc vắng mặt đương sự: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự để tham gia phiên tòa nhưng đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

  • Về việc B1 yêu cầu ông D1, bà T1 trả tổng số tiền tính đến ngày 18/6/2024 là 6.603.817.794 đồng và các khoản lãi phát sinh từ ngày 19/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Hợp đồng tín dụng số: 78/2022/16810743/HĐTD ngày 24/02/2022 được ký kết giữa B1 và ông D1, bà T1 trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, căn cứ các Điều 117, 401 và 463 Bộ luật Dân sự, hợp đồng tín dụng có hiệu lực, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

    Các đương sự đều thừa nhận, ông D1, bà T1 đã nhận đủ số tiền 6.000.000.000 đồng B1 đã giải ngân nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Từ ngày 15/3/2023, khoản vay đã quá hạn nhưng đến nay ông D1, bà T1 chỉ trả cho B1 số tiền 830.291.635 đồng (250.050.000 đồng nợ gốc và 580.241.635 đồng nợ lãi). Việc không thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn của ông D1, bà T1 là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ của người vay theo mục 6 hợp đồng tín dụng, Điều 466 Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng và Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông D1 và bà T1 có trách nhiệm thanh toán cho B1 số tiền tính đến ngày 18/6/2024 là 6.603.817.794 đồng (trong đó: nợ gốc là 5.749.950.000 đồng, lãi là 803.772.748 đồng, phí trả chậm là 50.095.046 đồng) và tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh từ ngày 19/6/2024 theo mức lãi suất thoả thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi ông D1, bà T1 thanh toán xong khoản nợ.

  • Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

    Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 78/2022/16810743/HĐTC ngày 24/02/2022 được ký kết giữa B1 và ông D1, bà T1 trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, được công chứng và đăng ký biện pháp bảo đảm. Do đó, căn cứ các Điều 117 và 401 Bộ luật Dân sự, Điều 122 Luật Nhà ở và khoản 1 Điều 4 Nghị định số: 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ hợp đồng thế chấp có hiệu lực, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

    Theo điểm b khoản 1 Điều 10 của hợp đồng thế chấp các bên thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp khi: “Bên thế chấp vi phạm nghĩa vụ theo bất kỳ hợp đồng cấp tín dụng nào được bảo đảm bằng hợp đồng này dẫn đến việc phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trước hạn”. Theo khoản 1 Điều 299 Bộ luật Dân sự quy định về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm: “Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Như vậy, do ông D1, bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi nên B1 yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtvới diện tích đất 144,3 m², thửa đất số 1419, tờ bản đồ số 10, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, trên đất có nhà cấp 3, diện tích xây dựng 112,79m², diện tích sàn 312,59 m² để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông D1, bà T1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Số tiền này do B1 đã tạm ứng nên ông D1, bà T1 có trách nhiệm trả lại cho B1.

[4] Về án phí: Ông D1, bà T1 phải nộp 114.603.817 đồng án dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho B1 số tiền 57.022.753 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số: 0009266 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 117, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 401, 463, 466 và 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 121, 122, 144 và 149 Luật Nhà ở năm 2014; Nghị định số: 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Án lệ số: 08/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số: 698/QĐ.CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ đối với bị đơn ông Châu Chí D1 và bà Nguyễn Thị Phương T1.

  1. Buộc ông Châu Chí D1 và bà Nguyễn Thị Phương T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền tính đến ngày 18/6/2024 là 6.603.817.794 đồng (trong đó: nợ gốc là 5.749.950.000 đồng, nợ lãi là 803.772.748 đồng, phí trả chậm là 50.095.046 đồng).

    Kể từ ngày 19/6/2024, ông Châu Chí D1 và bà Nguyễn Thị Phương T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP Đ thì lãi suất mà ông Châu Chí D1 và bà Nguyễn Thị Phương T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng TMCP Đ.

  2. Tài sản thế chấp bảo đảm thi hành án là: Quyền sở hữu nhà ở diện tích xây dựng 112,79m², diện tích sàn 312,59m², cấp: 3 gắn liền với quyền sử dụng đất diện tích 144,3m², thửa đất số 1419, tờ bản đồ 10, tọa lạc tại xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DD 487082, số vào sổ cấp GCN: CS 01775 ngày 27/01/2022 cho ông Phùng Hùng N và bà Đặng Thị B đứng tên, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Châu Chí D1 ngày 10/02/2022.
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Châu Chí D1 và bà Nguyễn Thị Phương T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng.
  4. Về án phí:
    • - Ông Châu Chí D1 và bà Nguyễn Thị Phương T1 phải nộp 114.603.817 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 57.022.753 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số: 0009266 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- VKSND TP. Biên Hòa;

- Chi cục THADS TP. Biên Hòa;

- Các đương sự;

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/DS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 85/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đ - Châu Chí D1, Nguyễn Thị Phương T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger