Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 85/2024/HS-PT

Ngày 17 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại.

Các thẩm phán: Ông Phan Ngọc Minh.

Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Bình – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh Q, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tổ chức phiên tòa trực tuyến, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 97/2024/TLPT-HS ngày 10/6/2024 đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn An P, Nguyễn Văn H do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1995 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; không rõ cha và con bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: chưa có;

Tiền án: Ngày 17/9/2013, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 231/2013/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/6/2014 và ngày 15/7/2015 bị Toà án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 119/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/3/2020;

Tiền sự: Ngày 01/3/2022, bị Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 37/2022/QĐ-TA, đã chấp hành xong vào ngày 02/5/2023;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2023 đến nay, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Q; có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn An P, sinh ngày 08 tháng 7 năm 1997 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 (chết) và con bà Hồ Thị H1; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2023 đến nay, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Q; có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1994 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng T3 và con bà Kiều Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2023 đến nay, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Q; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn An P: Luật sư Lê Hoàng H2 - Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: số A đường P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Luật sư Võ Thị Thủy T4 - Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Số A đường P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng năm 2020, bà Cao Thị T5 có mượn của ông Nguyễn Văn T2, là cha đẻ của bị cáo P số tiền 25.000.000 đồng, ông T2 đã chết. Bà T5 đã trả nợ được số tiền 7.000.000 đồng, số tiền còn lại bà T5 chưa trả. Bị cáo P đã nhiều lần đến nhà bà T5 để yêu cầu bà T5 trả tiền, nhưng bà T5 vẫn chưa trả nợ.

Vào sáng ngày 06/8/2023, các bị cáo Nguyễn An P, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T uống cà phê tại quán N, ở thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây, bị cáo P kể lại sự việc bà T5 nợ tiền cho các bị cáo T và H cùng nghe và nhờ các bị cáo T, H cùng đi với bị cáo P đến nhà bà T5 để đòi nợ, thì các bị cáo H và T đồng ý. Khi đi, bị cáo P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1-617.50 chở bị cáo H; bị cáo T

điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1-853.54 cùng nhau đến nhà bà T5 để đòi nợ.

Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi các bị cáo: P, H và T đến nhà bà T5 ở thôn T, xã T, huyện S thì thấy có một mình bà T5 ở trong nhà. Các bị cáo: P, H, T dựng xe trước sân rồi đi bộ vào nhà bà T5. Lúc này, bà T5 đang đứng gần giường ngủ để ở phòng khách. Các bị cáo P, H và T đi vào nhà nói chuyện với bà T5. Bị cáo P hỏi bà T5 “Sao đó bà, tiền không gửi sao hứa miết vậy”, bà T5 trả lời “Chưa có tiền, khi nào có tiền chị gửi”. Cùng lúc này, bị cáo T đi bộ xuống nhà dưới và ra ngồi ở phía sau nhà bà T5. Bị cáo P tiếp tục nói với bà T5 “Bà giỡn hả, tiền thiếu tôi hứa miết mà không trả”. Vừa nói xong, bị cáo P xông đến dùng tay, chân đánh, đá vào người bà T5. Vì quá hoảng loạn nên bà T5 lấy 01 cái búa (loại búa đóng đinh) để ở giường ngủ cầm trên tay, mục đích để tự vệ. Lúc này, bị cáo H nói với bà T5 “Bà thích đánh không”, vừa nói xong, bị cáo H đưa đầu của mình đến gần bà T5 nói tiếp “Đầu nè đánh đi”, nhưng bà T5 không dám đánh. Bị cáo H lấy một khúc cây gỗ dài 136cm, đường kính hai đầu lần lượt là 03cm và 2,5cm đang để ở góc nhà của bà T5 và cầm cây gỗ vung lên mục đích để đánh bà T5 nhưng bị cáo P ngăn cản bị cáo H và nói “Coi chừng bả chết đấy” thì bị cáo H bỏ khúc cây xuống. Cùng lúc này, bị cáo T đi từ phía sau vào nhà bà T5, khi vào khu vực nhà dưới thì thấy một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung cảm ứng, mặt trước kính màu đen, mặt sau màu trắng, loại Galaxy A02S, số IMEI: 352845114125008414; bên trong điện thoại có gắn sim Viettel số 0353.219.xxx của bà T5 đang để trên bình nước lọc, bị cáo T lấy điện thoại cầm trên tay và tiếp tục đi đến vị trí bà T5 đang treo áo khoác trên tường nhà, lục túi áo khoác của bà T5 lấy số tiền 922.000 đồng (chín trăm hai mươi hai nghìn đồng). Bị cáo T đem điện thoại di động và số tiền 922.000 đồng đến đưa cho bị cáo P thì bị cáo P cầm lấy điện thoại di động và số tiền 922.000 đồng bỏ vào túi quần. Bà T5 thấy bị cáo T lấy điện thoại và tiền của mình đưa cho bị cáo P nhưng bà T5 không dám giành giật, phản kháng để lấy lại tài sản.

Sau khi lấy tiền và điện thoại di động của bà T5 xong thì các bị cáo P, H và T ra vị trí nơi để xe chuẩn bị đi về. Bà T5 đứng trong hè nhà nói “Tao đâu có thiếu tiền bọn bây đâu, khi nào có thì trả”. Nghe bà T5 nói vậy thì bị cáo T lấy chiếc ghế nhựa (loại ghế nhựa có tựa lưng) đang để trước hè của nhà bà T5, bị cáo T cầm ghế đánh 01 cái trúng vào đầu của bà T5, làm bà T5 bị chảy máu, chiếc ghế bị bể vỡ làm nhiều mảnh. Bà T5 bị đánh thì lui vào trong nhà, lấy cái búa cầm trên tay, bị cáo H vào giật cái búa từ tay bà T5 và vứt tại đám keo trước nhà bà T5. Thấy chiếc xe mô tô của bà T5 đang dựng trước nhà, bị cáo H nói với bà T5 “Một tuần tôi lên không có tiền thì tôi lấy chiếc xe đây”. Sau đó, các bị cáo: P, H, T bỏ đi. Bị cáo P sử dụng số tiền vừa chiếm đoạt của bà T5 để đổ xăng và uống cà phê hết 151.000 đồng, còn lại số tiền 771.000 đồng bị cáo P giữ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐG ngày 15/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, kiểu thiết bị Galaxy A02S, kiểu máy SM-A025F/DS, số seri R9HR201RQYJ có giá trị 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng); 01 (một) sim điện thoại di động V có giá trị 170.000 đồng (một trăm bảy mươi nghìn đồng).

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 69/KLTTCT-TTPY ngày 22/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Cao Thị T5 tại thời điểm giám định là 03% (ba phần trăm).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tuyên xử:

Áp dụng:

  • - Điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt Nguyễn Văn T 09 (chín) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2023.
  • - Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • + Xử phạt Nguyễn An P 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2023.
  • + Xử phạt Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 10/5/2024, bị cáo Nguyễn An P kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 14/5/2024, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 16/5/2024, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn An P, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo như trên. Riêng bị cáo Nguyễn Văn T bổ sung nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại tội danh của các bị cáo, chuyển từ tội “Cướp tài sản” sang tội “Cưỡng đoạt tài sản” và xem xét lại quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về tuyên tịch thu chiếc xe mô tô của bị cáo. Bị cáo Nguyễn Văn H bổ sung nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử

phúc thẩm xem xét lại tội danh của các bị cáo, chuyển từ tội “Cướp tài sản” sang tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa phúc thẩm:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn An P, Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là: Bộ luật hình sự); bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T, nhiều lần phạm tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn tái phạm, điều này chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cân nhắc về nhân thân và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 09 năm tù là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo T.

Đối với các bị cáo Nguyễn An P, Nguyễn Văn H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo P 08 năm tù, bị cáo H 07 năm tù là có phần nghiêm khắc đối với các bị cáo.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, gia đình 02 bị cáo giao nộp bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới, thể hiện 02 bị cáo đã bồi thường thêm về tổn thất tinh thần cho bị hại, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng và được bà T5 có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự. Xét thấy, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và đề nghị xử phạt bị cáo P mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù; bị cáo H mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

- Luật sư Lê Hoàng H2 bào chữa cho bị cáo Nguyễn An P phát biểu luận cứ bào chữa cho bị cáo:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn An P phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

Về hình phạt: Bị cáo P có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo P 08 năm tù là quá nghiêm khắc đối với bị cáo.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo P giao nộp bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới, gia đình bị cáo đã bồi thường thêm về tổn thất tinh thần cho bị hại, số tiền 1.000.000đồng và được bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, bị cáo có hành động ngăn chặn bị cáo H dùng cây gỗ đánh bị hại và đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và đề nghị xử phạt bị cáo P mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Luật sư Võ Thị Thủy T4 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H phát biểu luận cứ bào chữa cho bị cáo:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

Về hình phạt: Bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 07 năm tù là quá nghiêm khắc đối với bị cáo.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo H giao nộp bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới, gia đình bị cáo đã bồi thường thêm về tổn thất tinh thần cho bị hại, số tiền 1.000.000đồng và được bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và đề nghị xử phạt bị cáo H mức án 03 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi của các bị cáo Nguyễn An P, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo: Nguyễn An P, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào sáng ngày 06/8/2023, trong lúc cùng nhau uống cà phê tại quán N, ở thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi thì bị cáo Nguyễn An P đã rủ các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T đến nhà bà Cao Thị T5 để đòi nợ mà bà T5 đã vay của ông Nguyễn Văn T2 (là cha đẻ của bị cáo P). Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, 03 bị cáo đến nhà bà T5 để đòi nợ. Trong lúc yêu cầu bà T5 trả nợ thì hai bên có cãi vả thì bị cáo P đã có hành vi dùng tay, chân đánh gây thương tích cho bà T5; bị cáo H

đã có hành vi dùng (cây gỗ) là hung khí nguy hiểm vung lên định đánh bà T5 nhằm uy hiếp, làm cho bà T5 hoảng sợ nhưng được P ngăn cản. Sau đó, bị cáo T đã chiếm đoạt 01 điện thoại di động có gắn 01 sim điện thoại di động V, với giá trị 1.370.000 đồng và số tiền 922.000 đồng của bà T5 đưa cho bị cáo P. Sau khi chiếm đoạt xong các tài sản trên của bà T5, các bị cáo chuẩn bị ra về thì bà T5 nói “Tao đâu có thiếu tiền bọn bây đâu, khi nào có thì trả”. Nghe vậy, bị cáo T lấy chiếc ghế nhựa (loại ghế nhựa có tựa lưng) đang để trước hè nhà bà T5 và cầm ghế đánh 01 cái trúng vào đầu của bà T5, làm bà T5 bị chảy máu, chiếc ghế bị vỡ làm nhiều mảnh. Bà T5 bị đánh thì lui vào trong nhà, lấy cái búa cầm trên tay để phòng vệ thì bị cáo H giật cái búa từ tay bà T5 và vứt tại đám keo trước nhà bà T5.

Tổng giá trị tài sản mà các bị cáo T, P và H đã chiếm đoạt của bà T5 là 2.122.000 đồng (Hai triệu, một trăm hai mươi hai nghìn đồng), không bao gồm giá trị chiếc sim điện thoại 170.000 đồng (Một trăm bảy mươi nghìn đồng). Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị tài sản bị thiệt hại bao gồm giá trị chiếc sim điện thoại là chưa phù hợp với quy định tại Điều 15 và Điều 61 của Luật viễn thông.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn An P, Nguyễn Văn H về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng phát luật. Đối với bị cáo Nguyễn Văn T có 02 tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi cướp tài sản, nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo:

[2.1] Đối với bị cáo Nguyễn Văn T: Bị cáo T là người nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà T5; cũng là người chiếm đoạt tài sản, khi bà T5 phản ứng lại thì bị cáo là người dùng hung khí (ghế nhựa đánh vào đầu bà T5). Như vậy, bị cáo T là người giữ vai trò chính và thực hiện hành vi nguy hiểm hơn các bị cáo khác. Ngoài ra, ngày 17/9/2013, bị cáo T đã bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; vào ngày 15/7/2015, bị Toà án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”; bị cáo nhiều lần phạm tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cân nhắc về nhân thân và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo 09 năm tù là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.

[2.2] Đối với bị cáo Nguyễn An P, Nguyễn Văn H: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả; tài sản thiệt hại không lớn; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo P 08 năm tù, bị cáo H 07 năm tù là có phần nghiêm khắc đối với các bị cáo.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, gia đình các bị cáo P, H giao nộp bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, thể hiện gia đình các bị cáo đã bồi thường thêm về tổn thất tinh thần cho bà T5, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000đồng và được bà T5 có đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo P có hành động ngăn chặn bị cáo H dùng cây gỗ đánh bị hại nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội đã ngăn chặn làm giảm bớt tác hại của tội phạm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo P.

Xét thấy, các bị cáo P, H phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong khung hình phạt liền kề để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sớm hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[3] Về xử lý vật chứng: Bản án sơ thẩm tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô biển số 76C1 – 853.54, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng bạc, số máy JA39E3085028, số khung RLHJA3923PY463981 thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn T, với lý do bị cáo T sử dụng chiếc xe nêu trên để thực hiện hành vi phạm tội là chưa phù hợp. Bởi vì, bị cáo T chỉ sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi đến nhà bà T5 và ra về, bị cáo không sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội hay nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Để đảm bảo quyền lợi của bị cáo T, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về quyết định xử lý vật chứng, tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T chiếc xe mô tô biển số 76C1 – 853.54, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng bạc, số máy JA39E3085028, số khung RLHJA3923PY463981;

Đối với các vật chứng khác giữ nguyên về quyết định xử lý vật chứng như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi là phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.

[5] Xét đề nghị của Luật sư Lê Hoàng H2 và Luật sư Võ Thị Thủy T4 là phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.

[6] Về án phí:

  • [6.1] Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  • [6.2] Các bị cáo Nguyễn An P, Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị hoặc không được xét xử trong bản án này đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c, d khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn An P, Nguyễn Văn H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

1.1. Áp dụng: điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2023.

1.2. Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 168; điểm a, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản 1 Điều 54 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn An P 05 (Năm) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2023.

1.3. Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản 1 Điều 54 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 05 (Năm) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

2.1. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) ghế nhựa màu trắng đục, bị bể vỡ nhiều mãnh; 01 (một) khúc gỗ hình trụ tròn, dài 136cm, đường kính hai đầu lần lượt là 3cm, 2,5cm.

2.2. Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) xe mô tô biển số 76C1 – 853.54, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu trắng bạc, số máy JA39E3085028, số khung RLHJA3923PY463981.

2.3. Trả lại cho bà Hồ Thị H1 nhận 01 (một) xe mô tô biển số 76C1-617.50, nhãn hiệu Honda, loại xe WinnerX, số khung 3716KY022685, số máy KC34E1047269.

(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 08/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Tịnh).

3. Về án phí:

3.1. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

3.2. Các bị cáo Nguyễn An P, Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi,
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND, TAND huyện Sơn Tịnh;
  • - Công an huyện Sơn Tịnh;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Tịnh;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Quang Toại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-PT ngày 17/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 85/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger