Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN BIÊN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-8-2024

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên

Bà Trần Thu Trang.

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thuý – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tr, sinh năm 1989 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Tổ 4, khu phố H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

  3. Bị đơn: Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1982 (vắng mặt)
  4. Nơi ĐKTT: Tổ 4, khu phố H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

    Chỗ ở hiện nay: Ấp 6 B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại Tòa án của nguyên đơn chị Lê Thị Tr:

Chị Lê Thị Tr và anh Đỗ Văn Đ tự nguyện đi đến hôn nhân, chung sống với nhau năm 2015, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến ngày 23/12/2025 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, cự cãi bất hoà, làm cho đời sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân gần 04 năm nay. Chị Tr nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị Lê Thị Tr xác định trong quá trình chung sống chị và anh Đỗ Văn Đ có 02 người con chung tên Đỗ Tấn T, sinh ngày 03/12/2008 và Đỗ Thị Yến Nh, sinh ngày 22/5/2012, hiện đang sống cùng với chị Tr. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Lê Thị Tr xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản xác minh ngày 08/3/2024 về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân xác định: Anh Đỗ Văn Đ, đăng ký thường trú tại: Tổ 4, khu phố H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp 6 B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình anh Đỗ Văn Đ và chị Lê Thị Tr chung sống với nhau phát sinh mâu thuẫn, anh chị đã ly thân thời gian dài. Từ trước đến nay anh chị không có tranh chấp về tài sản cũng như có ai yêu cầu anh chị thanh toán nợ.

Bị đơn anh Đỗ Văn Đ: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các vănbản tố tụng hợp lệ cho anh Đỗ Văn Đ nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nuôi con của chị Lê Thị Tr nên Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Lê Thị Tr: Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Đỗ Văn Đ: Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên phát biểu về thủ tục tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, xác định mối quan hệ pháp luật, đưa tư cách đương sự tham gia tố tụng, về thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh, tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát đúng trình tự thủ tục và thời gian đúng theo của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Lê Thị Tr có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đỗ Văn Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do đề nghị xét xử vắng nguyên đơn, mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Lê Thị Tr yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Văn Đ và yêu cầu được nuôi dưỡng người con chung là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Lê Thị Tr được ly hôn với anh Đỗ Văn Đ. Về quan hệ con chung, khi anh chị ly hôn giao 02 người con chung của anh chị cho chị Lê Thị Tr tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị Lê Thị Tr không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, về tài sản chung và nợ, chị Lê Thị Tr tự xác định không có, không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị Tr có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Đỗ Văn Đ. Bị đơn anh Đỗ Văn Đ, đăng ký thường trú: Tổ 4, khu phố H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp 6 B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là vụ kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đỗ Văn Đ biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Lê Thị Tr khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Đỗ Văn Đ nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Đỗ Văn Đ vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, đây là thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Đỗ Văn Đ nhưng anh Đỗ Văn Đ vẫn cố tình vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do, nguyên đơn chị Lê Thị Tr có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất quyết định xét xử vắng mặt chị Tr và anh Đ.

[3] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Tr và anh Đỗ Văn Đ tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 363/2015 ngày 23/12/2015 theo quy tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên xác định hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Chị Lê Thị Tr yêu cầu xin ly hôn với anh Đỗ Văn Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Đ vắng mặt, đồng thời không gửi văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tr. Qua lời trình bày của chị Tr cũng như kết quả xác minh từ địa phương cho thấy anh chị cưới năm 2015, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến ngày 23/12/2015 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, cự cãi bất hoà, làm cho đời sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân gần 04 năm nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã mở phiên hòa giải để hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh Đ vắng mặt không có lý do, không thể hiện thiện chí hàn gắn hôn nhân. Vợ chồng không ai quan tâm đến ai và cũng không ai muốn hàn gắn hôn nhân do đó có sơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được cho nên căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tr, cho chị Lê Thị Tr được ly hôn với anh Đỗ Văn Đ.

Về con chung: Chị Lê Thị Tr xác định trong quá trình chung sống chị và anh Đỗ Văn Đ có 02 người con chung tên Đỗ Tấn T, sinh ngày 03/12/2008 và Đỗ Thị Yến Nh, sinh ngày 22/5/2012, hiện nay đang sống với chị Lê Thị Tr. Khi ly hôn, chị Lê Thị Tr yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung.

Xét thấy, trong thời gian vợ chồng ly thân cháu Đỗ Tấn T và Đỗ Thị Yến Nh sống cùng với chị Tr, hiện nay cháu vẫn phát triển bình thường, chị Tr yêu cầu tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Để đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, ổn định về sự phát triển bình thường của cháu Đỗ Tấn T và Đỗ Thị Yến Nh, trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất tiếp tục giao cháu Đỗ Tấn T và Đỗ Thị Yến Nh cho chị Tr tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (theo nguyện vọng của 02 cháu) là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Tr không yêu cầu anh Đỗ Văn Đ cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Tr xác định không có, không yêu cầu giải quyết, anh Đỗ Văn Đ không có ý kiến nên không xem xét.

[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc nguyên đơn chị Lê Thị Tr nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 9; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Tr được ly hôn với anh Đỗ Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao người 02 con chung tên Đỗ Tấn T, sinh ngày 03/12/2008 và Đỗ Thị Yến Nh, sinh ngày 22/5/2012 cho chị Lê Thị Tr tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (theo nguyện vọng của 02 cháu), không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Các bên có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Tr xác định chị và anh Đ không có nên không xem xét.
  4. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Tr phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009099 ngày 28/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Tr đã nộp đủ.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện An Biên;
  • - THADS huyện An Biên;
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (Dương).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Trần Mộng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 17/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger