Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


Bản án số: 85/2024/KDTM-PT

Ngày: 17/4/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng xây dựng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Các thẩm phán: Bà Lê Thúy Linh - Ông Bùi Đức Bằng

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Hòa - Thư ký Toà án nhân dân

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 + 17/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ kinh doanh thương mại thụ lý 1299/2023/KDTM - PT ngày 19/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 101/2023/KDTM-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân quận Ba Đình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 146/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 20/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 173/2024/QĐ-HPT ngày 28/3/2024 giữa:

Nguyên đơn: Công ty TNHH T2. Địa chỉ: Số B ngõ A phố T, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn G - Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị Y, bà Nguyễn Hải Y1, Địa chỉ: Số A ngõ B D, quận C, thành phố Hà Nội

Bị đơn: Công ty Cổ phần G1. Địa chỉ: Số D ngõ D phố K, quận B, thành phố Hà Nội. Địa chỉ văn phòng làm việc: Vị trí 9 Biệt thự Liền kề 2, khu đô thị Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá L - Chủ tịch HĐQT và ông Phan Bá T - Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh Đ; Địa chỉ: A-tầng D, tòa nhà T, phường M, quận N, thành phố Hà Nội

(Nguyên đơn vắng mặt khi xét xử, có mặt khi tuyên án; Bị đơn có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 03/6/2019, Công ty Cổ phần G1 (Gọi tắt là Công ty G1) và Công ty TNHH T2 (Gọi tắt là Công ty T2) ký kết Hợp đồng kinh tế số 01/2019/HĐME/AT-GNAM. Nội dung hợp đồng thể hiện việc Công ty T2 nhận thực hiện thi công trọn gói công việc cung cấp thiết bị, thi công lắp đặt hệ thống M&E của công trình nhà máy S tại địa điểm Lô IN1, đường số A, khu công nghiệp C - Lương Điền, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.

Sau khi ký kết hợp đồng, hai bên còn ký thêm các Phụ lục hợp đồng để thỏa thuận một công việc phát sinh ngoài Hợp đồng.

Thực hiện Hợp đồng, Công ty T2 đã cung cấp thiết bị và thi công lắp đặt hệ thống M&E của công trình Nhà máy S theo đúng thỏa thuận và bản vẽ mà Công ty G1 đã cung cấp. Tổng giá trị hợp đồng đã bao gồm VAT là: 8.266.540.869 VNĐ.

Hai bên đã 02 lần ký xác nhận khối lượng công việc hoàn thành cụ thể:

- Ngày 10/8/2020 ký xác nhận khối lượng công việc hoàn thành lần 1, theo đó, Công ty G1 xác nhận tổng giá trị khối lượng công việc hoàn thành của Công ty T2 là 3.976.348.765 đồng. Công ty T2 đã xuất 02 Hóa đơn GTGT cho hồ sơ thanh toán khối lượng hoàn thành lần.

- Ngày 08/11/2021 ký xác nhận khối lượng công việc hoàn thành lần 2, theo đó, Công ty G1 xác nhận tổng giá trị khối lượng công việc hoàn thành của Công ty T2 lần 2 là: 1.630.797.336đồng.

Tại Bảng tổng hợp giá trị khối lượng công việc hoàn thành lần 2 ngày 08/11/2021, Công ty G1 đã xác nhận toàn bộ khối lượng công việc thực hiện của hai lần có tổng giá trị là 5.607.146.101 đồng. Công ty T2 đã xác nhận khối lượng công việc hoàn thành với Công ty G1 hai lần và xuất hóa đơn GTGT với tổng số tiền là 5.607.146.101 đồng.

Công ty G1 đã thanh toán cho Công ty T2 là: 3.681.079.012₫.

Số tiền mà Công ty G1 còn nợ Công ty T2 là: 1.526.067.089₫.

Công ty G1 còn nợ 1.726.067.089 đồng.

Sau khi Công ty T2 nộp đơn khởi kiện, Công ty G1 thanh toán thêm 200.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền là 1.526.067.089₫.

Công ty T2 đề nghị Tòa án giải quyết:

  • Buộc Công ty G1 thanh toán tiền nợ gốc là: 1.526.067.089 đồng và lãi phạt chậm trả là 10% kể từ 10/2020 đến khi đưa ra xét xử.
  • Buộc Công ty G1 thanh toán tiền cho khối lượng công việc phát sinh ngoài hợp đồng là: 1.341.632.267 đồng.

Trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, Công ty G1 đã trả thêm cho Công ty T2 số tiền 404.637.869 đồng.

Như vậy, Công ty G1 đã thanh toán cho Công ty T2 là: 4.485.716.881 đồng và còn nợ Công ty T2 tổng số tiền gốc theo Hợp đồng kinh tế số 01 là 1.121.429.220đồng, (Trong đó còn nợ theo hồ sơ khối lượng công việc hoàn thành lần 1 là 795.269.753 đồng và nợ theo hồ sơ khối lượng công việc hoàn thành lần 2 là 326.159.467 đồng).

Công ty T2 xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc Công ty G1 thanh toán số tiền khối lượng công việc phát sinh ngoài hợp đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Công ty T2 lại rút một phần yêu cầu khởi kiện về phần lãi, chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán lãi của số tiền 1.121.429.220đồng từ ngày 15/01/2022 đến ngày 15/9/2023 với mức lãi suất 9,4%/năm làm tròn là 158.000.000 đồng.

Bị đơn Công ty Cổ phần G1 Tòa nhà An T1 thừa nhận việc ký kết Hợp đồng kinh tế số 01 và các Phụ lục hợp đồng đúng như Công ty T2 trình bày.

Về khối lượng khối lượng công việc mà Công ty T2 đã hoàn thành và xuất hóa đơn giá trị gia tăng, Công ty G1 và không có ý kiến gì.

Đối với khối lượng công việc phát sinh do chưa hoàn thành thủ tục thanh quyết toán do đó Công ty G1 chưa chốt được khối lượng công việc và số tiền với Công ty T2.

Trước yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 cho rằng Công ty G1 chưa thanh toán số tiền còn thiếu theo Hợp đồng kinh tế số 01 1.121.429.220 đồng, Công ty G1 muốn hòa giải và đề nghị nếu Công ty T2 miễn toàn bộ tiền lãi thì Công ty G1 sẽ trả toàn bộ số tiền gốc 1.121.429.220đồng trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày xét xử. Trường hợp Công ty T2 không đồng ý thì Công ty G1 đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 bởi căn cứ theo điều 3 của Hợp đồng số 01 thì Công ty T2 chưa đáp ứng đủ các điều kiện để được thanh toán 100% giá trị hợp đồng bởi Công ty T2 chưa cung cấp đủ hồ sơ thanh toán cho Công ty G1.

Bản án sơ thẩm số 101/2023/KDTM-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã quyết định:

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty TNHH T2 về việc yêu cầu thanh toán theo Hợp đồng kinh tế số 01/2019/HĐME/AT-GNAM ngày 03/6/2019.

- Buộc Công ty cổ phần G1 Tòa nhà An T1 phải thanh toán cho Công ty TNHH T2 số tiền gốc và lãi tính đến ngày 15/9/2023 là: 1.279.429.220 đồng.

Trong đó:

  • Tiền gốc: 1.121.429.220 đồng.
  • Tiền lãi chậm thanh toán: 158.000.000 đồng.

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong bản án”

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ phải chịu án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Công ty G1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và đề nghị hủy án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án có nội dung chính:

Tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đúng quy định và yêu cầu chung của phiên tòa phúc thẩm: Thành phần HĐXX phúc thẩm, phạm vi xét xử phúc thẩm đúng quy định tại Điều 64 và Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 BLTTDS. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Bị đơn xác nhận khoản nợ còn nợ Nguyên đơn nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ gốc còn lại 1.121.429.220đ như cấp sơ thẩm đã tuyên. Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm, Bị đơn xuất trình 3 Ủy nhiệm chi (Tải từ trên mạng xuống) và trình bày đến thời điểm này, Bị đơn đã thanh toán hết số nợ gốc theo quyết định của bản án sơ thẩm cho Nguyên đơn nhưng không có xác nhận của Nguyên đơn tại phiên tòa nên HĐXX không đủ cơ sở xác định Bị đơn đã trả cho Nguyên đơn số tiền gốc còn nợ 1.121.429.220đ hay chưa? Đối với yêu cầu đòi tiền lãi: Cấp sơ thẩm xác định Công ty T2 đã xuất hóa đơn GTGT nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi chậm trả 158.000.000đ. Đề xuất: Không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Đơn kháng cáo và biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm của Công ty Cổ phần G1 (Công ty G1) làm và nộp trong thời hạn luật định nên kháng cáo được chấp nhận về hình thức.

Xét về nội dung:

Hợp đồng kinh tế số 01/2019/HĐME/AT-GNAM ngày 03/6/2019 (Hợp đồng số 01) được ký kết tự nguyện, nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng có hiệu lực thi hành.

Thực hiện hợp đồng, Công ty T2 đã thi công trọn gói công việc cung cấp thiết bị, thi công lắp đặt hệ thống M&E của công trình nhà máy S tại Lô I, đường số A, khu công nghiệp C, Lương Điền, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương và hoàn thành khối lượng công việc, được Công ty G1 xác nhận theo Hồ sơ thanh toán khối lượng hoàn thành lần 1 (bút lục 172), Hồ sơ thanh toán khối lượng hoàn thành lần 2 (bút lục 246).

Căn cứ các hóa đơn GTGT số 161 ngày 19/3/2020, số 169 ngày 19/8/2020, số 31 ngày 12/11/2021 do Công ty T2 xuất tổng giá trị khối lượng công việc hoàn thành là 5.607.146.101đồng. Các bên đều xác nhận số tiền còn lại của Hợp đồng số 01 Công ty G1 chưa thanh toán là 1.121.429.220đồng.

Khoản 3.2 Điều 3 Hợp đồng số 01 quy định: "Bên A thanh toán đến 100% giá trị quyết toán cho bên B trong vòng 15 ngày kể từ ngày sau khi bên B hoàn thành và bàn giao toàn bộ công việc theo hợp đồng và bên A nhận được đầy đủ hồ sơ quyết toán kèm theo bảo lãnh bảo hành 5% giá trị quyết toán".

Ngày 15/12/2021, Công ty T2 đã bàn giao tài liệu hồ sơ chất lượng thanh toán cho Công ty G1 theo Biên bản bàn giao tài liệu (bút lục 438). Công trình nhà máy S tại Lô I, đường số A, khu công nghiệp C, Lương Điền, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương đã được nghiệm thu và đưa vào sử dụng từ ngày 30/6/2021. Do đó Công ty G1 có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ gốc 1.121.429.220đồng cho Công ty T2.

Về khoản tiền lãi chậm trả:

Các bên không thỏa thuận về lãi suất chậm trả trong hợp đồng số 01 nhưng căn cứ Điều 146 Luật Xây dựng, Điều 43 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP thì Công ty G1 có trách nhiệm thanh toán tiền lãi chậm trả do chậm thanh toán với mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng thương mại nơi Công ty T2 mở tài khoản thanh toán.

Theo khoản 3.1 Điều 3 Hợp đồng số 01 thì hàng tháng Công ty G1 thanh toán đến 80% giá trị khối lượng công việc hoàn thành được nghiệm thu thanh toán đợt trong vòng 15 ngày kể từ ngày Công ty G1 nhận được đầy đủ hồ sơ thanh toán và theo điểm c khoản 4 Điều 9 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định thời điểm lập hóa đơn: "Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt, thời điểm lập hóa đơn là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền". Công ty T2 đã xuất các hóa đơn GTGT số 161 ngày 19/3/2020, số 169 ngày 19/8/2020, số 31 ngày 12/11/2021 nên xác định từ thời điểm Công ty T2 xuất hóa đơn GTGT là thời điểm khối lượng công việc hoàn thành được nghiệm thu. Trong vòng 15 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn, Công ty G1 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T2 theo các hóa đơn GTGT đã xuất. Tuy nhiên tính đến thời điểm Công ty T2 gửi hồ sơ thanh toán toàn bộ khối lượng công trình ngày 15/12/2021, Công ty G1 vẫn chưa hoàn thành xong nghĩa vụ của mình. Quá trình giải quyết vụ án, Công ty T2 tự nguyện tính lãi từ thời điểm 15/01/2022 (sau 01 tháng ngày bàn giao hồ sơ thanh toán toàn bộ khối lượng công trình) và lãi suất là 9%/năm là có lợi cho bị đơn nên được HĐXX cấp sơ thẩm ghi nhận là có căn cứ. Số tiền lãi chậm trả Công ty G1 phải thanh toán cho Công ty T2 được tính trên số tiền nợ gốc 1.121.429.220đồng từ ngày 15/01/2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty G1 xuất trình 03 Ủy nhiệm chi không có xác nhận của Ngân hàng và Công ty T2 vắng mặt tại phiên tòa nên không đủ căn cứ để xác định Công ty G1 đã trả đủ số nợ gốc 1.121.429.220đ cho Công ty T2. Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm.

Quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Từ những nhận định trên

Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

QUYẾT ĐỊNH

Xử:

  1. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 101/2023/KDTM-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
  2. Về án phí phúc thẩm: Công ty Cổ phần G1 phải chịu 2.000.000đồng án phí phúc thẩm, Công ty đã nộp tạm ứng 3.000.000đồng theo Biên lai số 4540 ngày 09/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, nay được hoàn lại 1.000.000đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - TAND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Lưu HS/VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/KDTM-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng xây dựng

  • Số bản án: 85/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger