TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 85/2024/HS-ST Ngày: 17/4/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông và ông Nguyễn Tiến Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Mở phiên tòa công khai ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B
sinh năm 1989. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường Đ, quận H, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo, Đảng phái: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 3/12. Con ông Nguyễn Văn B1 và bà Trịnh Thị D. Có vợ là Lê Thị H và 02 con. Tiền sự: Không
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm 126/2021/HSST ngày 11/6/2021 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP . Hà Nội xử phạt Nguyễn Văn B 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/8/2023 (chưa xóa án tích).
Nhân thân:
- Bản án hình sự sơ thẩm 282/2009/HSST ngày 17/11/2009 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh, xử phạt Nguyễn Văn B 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích).
- Bản án hình sự sơ thẩm 105/2015/HSST ngày 22/6/2015 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP ., xử phạt Nguyễn Văn B 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích).
- Quyết định số 189606 ngày 15/4/2019 của Công an phường H, quận H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an T1 Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Anh Phạm Mạnh Đ; sinh năm 2005. HKTT: Khu 15, B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Xuân T; sinh năm 1971. HKTT: Thôn T, xã H, huyện T, Hà Nội. Có mặt.
- Anh Hàng A G; sinh năm 1971. HKTT: Bản Nậm Pố 4, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
- Anh Đinh Văn S; sinh năm 1976. HKTT: Ngõ Thí, C, xã C, huyện T, Hà Nội. Vắng mặt.
- Anh Lê Đức A; sinh năm 1971. HKTT: Đội 11, Siêu quần, xã T, huyện T, Hà Nội. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn Q; sinh năm 1999. HKTT: Xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Trần Văn S1; sinh năm 1995. HKTT: Tổ dân phố V, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Anh Trần Nho C; sinh năm 1996. HKTT: Tổ dân phố N, phường T, huyện D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 19/11/2023 đến ngày 26/11/2023, lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, Nguyễn Văn B đã dùng vam phá khoá (gồm 01 tay công bằng kim loại có chuôi bằng cao su dài 15,4 cm, 01 thanh kim loại hình trụ có một đầu mài nhọn dài 7,8 cm, đường kính 0,9 cm), 08 lần lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/11/2023, B mang theo 01 bộ vam phá khoá đi bộ đến khu đất trống đối diện số nhà G N, phường T, quận N, Hà Nội thì phát hiện thấy 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave, sơn màu xanh, BKS 19AM- 037.03 (đã xác định được của anh Phạm Mạnh Đ, sinh năm 2005; HKTT: khu A, B, huyện T, tỉnh Phú Thọ), xe không khoá cổ, không khoá càng, không có người trông giữ. B dùng vam phá khoá, mở ổ khoá điện và điều khiển chiếc xe của anh Đ đi về khu vực quận H. Trên đường đi, B tháo bỏ biển xe rồi nhặt ở ven đường biển kiểm soát 29T1-371.68 lắp vào chiếc xe vừa trộm được. B mang chiếc xe về nhà sử dụng làm phương tiện đi lại. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe là 16.800.000 đồng.
Ngày 19/12/2023, anh Phạm Mạnh Đ đến Công an quận H trình báo về việc bị mất trộm chiếc xe trên. Ngày 05/02/2024, Công an quận H đã trao trả anh Đ chiếc xe trên.
Lần thứ hai:
Trong ngày 23/11/2023, B mang theo vam phá khoá thực hiện 02 vụ trộm cắp xe máy. Cụ thể:
- Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 23/11/2023, B đi xe máy đeo BKS 29T1- 371.68 (chiếm đoạt của anh Phạm Mạnh Đ) từ nhà đến khu vực thôn H (thuộc xã H, huyện T, Hà Nội), thì phát hiện trước quán P có 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave, sơn màu trắng, BKS 29M1-796.03 (đã xác định được của anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1971; HKTT: Thôn T, xã H, huyện T, Hà Nội). B để xe cách quán phở khoảng 100m, đi bộ đến gần chiếc xe của anh T. Thấy xe có khoá cổ, không khoá càng, không có người trông giữ. B dùng chiếc vam mang theo mở ổ khoá điện và điều khiển chiếc xe trên đi đến khu vực khu đô thị T, phường P, quận H, Hà Nội. Trên đường đi, B đăng tải nội dung tìm kiếm người mua xe máy không giấy tờ lên mạng xã hội zalo, thì có tài khoản zalo tên “C1” liên hệ đồng ý mua xe máy không giấy tờ. B hẹn gặp người mua ở khu vực khu đô thị T (B không nhớ cụ thể vị trí). Khoảng 30 phút sau, có một người nam giới (chưa rõ nhân thân) giới thiệu tên là C1, chủ tài khoản zalo “C1” đi một mình đến gặp B. C1 kiểm tra và đồng ý trả cho B 3.500.000 đồng để mua xe, B giao xe máy cho người mua, rồi đi xe ôm về chỗ để xe máy nhãn hiệu Honda wave, sơn màu xanh, gắn BKS 29T1-371.68 (dựng ở thôn H, xã H, huyện T lúc trước) và đi về nhà. Toàn bộ số tiền bán xe B đã chi tiêu cá nhân hết. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe là 16.000.000 đồng.
Ngày 27/11/2023, anh Nguyễn Xuân T đến Công an phường K, quận H trình báo về việc bị mất trộm chiếc xe nêu trên.
- Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày 23/11/2023, B tiếp tục đi xe máy đeo BKS 29T1- 371.68, mang theo vam phá khoá, đến dãy phòng trọ (thuộc khu vực thôn P, xã H, huyện T, Hà Nội) thì thấy có 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave, sơn màu đen, BKS 27B2-127.98 (đã xác định được của anh Hàng A G, sinh năm 1988, HKTT: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên) để trước cửa một phòng trọ, không có người trông giữ. B để xe máy đang đi ở khu vực cạnh đường tàu, cách khu nhà trọ khoảng 100m rồi đi bộ đến vị trí xe máy của anh G. Thấy xe không khoá cổ, không khoá càng, B dùng vam mở ổ khoá điện, điều khiển xe đi về khu đô thị T, phường P, quận H, Hà Nội. Trên đường đi, B nhắn tin cho tài khoản zalo “C1” thỏa thuận bán xe và hẹn gặp ở khu vực khu đô thị T (B không nhớ cụ thể vị trí). “C1” đến kiểm tra xe và trả B 3.500.000 đồng để mua xe. B giao xe cho C1, rồi đi xe ôm về chỗ cũ (ở thôn P, xã H, huyện T) lấy chiếc xe máy gắn BKS 29T1-371.68 đi về nhà. Toàn bộ số tiền bán xe, B đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe là 17.200.000 đồng.
Ngày 27/11/2023, anh H1 A G đến Công an phường K trình báo về việc bị mất trộm xe máy nêu trên.
Lần thứ ba:
Trong ngày 26/11/2023, B đã thực hiện liên tiếp 05 vụ trộm cắp tài sản. Cụ thể:
- Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/11/2023, B đi xe máy gắn BKS 29T1 - 371.68, mang theo vam phá khoá đến khu vực đầu ngõ T, thôn C, (thuộc xã C, huyện T, Hà Nội), thấy 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave, sơn màu trắng, BKS 29X7- 495.85 (đã xác định của anh Đinh Văn S, sinh năm 1976; địa chỉ: Ngõ T, C, xã C, huyện T, Hà Nội), xe không có người trông giữ. B để xe máy đang đi ở khu vực miếu, cách chiếc xe của anh S khoảng 100m. B đi bộ đến vị trí chiếc xe máy của anh S, thấy xe có khoá cổ, không khoá càng, không có người trông giữ, B dùng chiếc vam mang sẵn mở khóa điện và khoá cổ xe. B điều khiển chiếc xe của anh S đi đến khu vực cánh đồng gần LK7-LK8, khu đất đấu giá M, tổ A, phường K, quận H, Hà Nội để cất giấu. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe là 13.490.000 đồng.
Ngày 27/11/2023, anh Đinh Văn S đến Công an phường K trình báo về việc bị mất trộm chiếc xe nêu trên. Ngày 05/12/2023, Công an quận H đã trao trả anh S chiếc xe trên.
Sau khi cất giấu chiếc xe của anh S, B đi xe ôm của người không quen biết về khu vực miếu ở xã C, huyện T để lấy xe máy BKS 29T1-371.68 và tiếp tục tìm kiếm tài sản trộm cắp.
- Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày 26/11/2023, B đến trước số nhà D, khu tập thể cơ khí điện 75 (thuộc xã T, huyện T, Hà Nội) thì thấy dựng nhiều xe máy, trong đó có 01 chiếc xe máy Honda wave, sơn màu xanh, BKS 29M1- 919.46 (đã xác định của anh Lê Đức A, sinh năm 2000, trú tại: Đ, S, xã T, huyện T, Hà Nội), xe có khoá cổ, không khoá càng, không có ai trông giữ. B để xe máy đang đi sát vỉa hè gần cầu cách khoảng 100m, rồi B đi bộ đến chỗ anh Đức A để xe, dùng vam phá khoá điện, điều khiển xe đến khu vực cánh đồng gần LK7-LK8, tổ A (thuộc M, phường K, quận H, Hà Nội) để cất giấu. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe là 19.600.000 đồng.
Ngày 27/11/2023, anh Lê Đức A đến Công an phường K trình báo về việc bị mất trộm chiếc xe nêu trên. Ngày 05/12/2023, Công an quận H đã trao trả anh Đức A chiếc xe trên.
Sau khi cất giấu xe này, B đi xe ôm quay lại khu vực khu tập thể cơ khí điện 75, Tả Thanh O để tìm tài sản tiếp tục trộm cắp.
- Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 26/11/2023, B đến số nhà D, ngõ khu tập thể cơ khí điện 75, T (thuộc huyện T, Hà Nội), thấy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, sơn màu đen, BKS 29H1-871.65 (đã xác định của anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1999, trú tại: Xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An), xe không khoá cổ, không khoá càng, không có ai trông giữ. B dùng vam phá khoá mở khoá điện, rồi điều khiển xe về khu vực cánh đồng gần LK7-LK8, tổ A M, phường K, quận H, Hà Nội cất giấu. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe là 13.196.000 đồng.
Sau khi cất giấu chiếc xe này, B đi xe ôm của người không quen biết quay lại khu vực cầu sắt xã T để lấy chiếc xe máy gắn BKS 29T1-371.68 đã để lại trước đó và đi về khu vực khu Đ tiếp tục tìm kiếm tài sản trộm cắp.
Ngày 27/11/2023, anh Nguyễn Văn Q đến Công an phường K, quận H trình báo về việc bị mất trộm chiếc xe trên. Ngày 29/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trao trả anh Q chiếc xe nêu trên.
- Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày 26/11/2023, B đi đến trước số nhà A khu Đ thấy có nhiều xe máy. B đi chiếc xe máy gắn BKS 29T1-371.68 đến để ở khu vực cánh đồng gần LK7-LK8, rồi đi bộ đến số nhà 11LK10. Thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave màu trắng BKS: 90B1-834.44 (đã xác định của anh Trần Văn S1, sinh năm 1995; trú tại: Tổ dân phố V, phường Y, huyện D, tỉnh Hà Nam) có khoá cổ, không khoá càng, không có người trông giữ. B dùng vam mang sẵn mở khoá cổ, nổ máy và điều khiển chiếc xe của anh S1 về cánh đồng gần LK7-LK8, tổ A M, phường K, quận H, Hà Nội để cất giấu chiếc xe. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe là 6.790.000 đồng. Sau khi cất giấu chiếc xe này, B đi bộ quay lại số nhà A tiếp tục tìm kiếm xe máy sơ hở để trộm cắp.
Ngày 26/11/2023, anh Trần Văn S1 đến đến Công an phường K, quận H trình báo về việc bị mất trộm chiếc xe nêu trên. Ngày 29/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trao trả anh S1 chiếc xe nêu trên.
- Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 26/11/2023, B đi bộ quay lại số nhà 11LK10. Thấy xe máy nhãn hiệu Yamaha Excite, sơn màu xám, BKS 90D1- 111.57 (đã xác định của anh Trần Nho C cho anh Nguyễn Bá L, sinh năm 2000, trú tại: TDP N, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam mượn để sử dụng) để trước cửa nhà, có khoá cổ, không khoá càng. B dùng vam mở khóa cổ, nổ máy xe đến gửi tại hầm gửi xe của toà chung cư M khu đô thị T, phường K, quận H, Hà Nội. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, B đi bộ một mình đến cánh đồng gần LK7-LK8, tổ A M, phường K, quận H để lấy 04 chiếc xe trộm cắp được đi bán thì bị lực lượng Công an phường K kiểm tra hành chính, phát hiện và đưa về trụ sở để làm việc.
Ngày 26/11/2023, anh Nguyễn Bá L đến Công an phường K trình báo về việc bị mất trộm chiếc xe nêu trên. Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe là 6.790.000 đồng. Ngày 05/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trao trả anh Trần Nho C chiếc xe nêu trên.
Ngày 27/11/2023, Nguyễn Văn B đã đến Công an phường K, quận H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi “Trộm cắp tài sản” của mình. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn B đã chiếm đoạt là: 124.741.000 đồng.
Cùng ngày 27/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn B ở số B, ngõ Đ, tổ A, phường Đ, quận H, Hà Nội kết quả: Không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Vật chứng đã thu giữ:
- Thu giữ của B: 01 bộ vam phá khoá gồm: 01(một) tay công bằng kim loại có chuôi bằng cao su dài 15,4 cm; 01 (một) thanh kim loại hình trụ có một đầu mài nhọn dài 7,8 cm, đường kính 0,9 cm.
- Thu giữ tại cánh đồng gần LK7-LK8, tổ A M, phường K, quận H (nơi B cất giấu xe):
- + 01 (một) xe máy Honda wave màu trắng, BKS: 29X7-495.85, số khung: 266276, số máy: 1127419, đã qua sử dụng, là tài sản của anh Đinh Văn S.
- + 01 (một) xe máy Honda wave màu xanh, BKS: 29M1-919.46, số khung: 408925, số máy: 3018738, đã qua sử dụng, là tài sản của anh Lê Đức A.
- + 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, BKS: 29H1- 871.65, số khung: 190097, số máy: 276245, đã qua sử dụng là tài sản của anh Nguyễn Văn Q.
- + 01 (một) xe máy Honda wave màu trắng, BKS: 90B1-834.44, số khung: 434984, số máy: 5434468, đã qua sử dụng, là tài sản của Trần Văn S1.
- + 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda wave màu xanh, đeo BKS: 29T1- 371.68, số khung: 066239, số máy: 0091948, đã qua sử dụng, là tài sản của anh Phạm Mạnh Đ.
- + Thu giữ từ ông Nguyễn Đăng N (sinh năm 1962. HKTT: xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa) là nhân viên bảo vệ toà chung cư M, phường K, quận H, Hà Nội giao nộp: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, BKS : 90D1-111.57, số khung RLCUG1010KY206371, số máy : G3D4E975802 là tài sản của anh Trần Nho C.
Vật chứng không thu giữ được :
- + 01 (một) xe máy Honda Wave màu trắng, BKS: 29M1-796.03, số khung: RLHJA3918LY155061, số máy: JA39E3-1492926, là tài sản của anh Nguyễn Xuân T.
- + 01 (một) xe máy Honda Wave màu đen, BKS: 27B2- 127.98, số khung: 3910LY261116, số máy: JA39E-1598997, là tài sản của anh Hàng A G.
Cơ quan điều tra đã gửi văn bản yêu cầu B2 thủ đô đăng báo truy tìm đối với 02 chiếc xe máy nêu trên và biển kiểm soát 29T1-371.68 nhưng chưa có kết quả.
Đối với người nam giới tên C1 (chủ tài khoản zalo “C1”) là người mua 02 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave màu trắng BKS: 29M1-796.03 và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave màu đen BKS: 27B2-127.98 từ Nguyễn Văn B: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, đủ căn cứ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc biển kiểm soát: 29T1-371.68. Kết quả điều tra xác định: trùng với số biển kiểm soát của chiếc xe nhãn hiệu Piagio màu trắng xanh được đăng ký sở hữu mang tên Bùi Thị Y (sinh năm 1995; HKTT: Số H Cầu Đ, phường H, quận H, Hà Nội). Công an phường H cung cấp: chị Bùi Thị Y đã vắng mặt tại địa phương từ lâu, đi đâu, làm gì địa phương không nắm được.
Cáo trạng số 45/CT-VKS-HĐ ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Văn B về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát quận H, Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn B từ 42 đến 48 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại là anh Phạm Mạnh Đ, Đinh Văn S, Lê Đức A, Nguyễn Văn Q, Trần Văn S1, Trần Nho C đã nhận lại tài sản, nay không có yêu cầu gì khác nên không xem xét. Người bị hại là anh Nguyễn Xuân T yêu cầu được bồi thường 16.000.000 đồng, anh H1 A G yêu cầu được bồi thường 17.200.000 đồng, là giá trị tài sản bị chiếm đoạt đã được Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự xác định nên cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là: 01 bộ vam phá khoá gồm: 01(một) tay công bằng kim loại có chuôi bằng cao su dài 15,4 cm; 01 (một) thanh kim loại hình trụ có một đầu mài nhọn dài 7,8 cm, đường kính 0,9 cm và 01 biển kiểm soát 29T1- 371.68 không tìm được chủ sở hữu.
Bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng; nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Có đủ căn cứ xác định: Lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, trong ngày 19, 23 và 26/11/2023, trên địa bàn quận H và huyện T, Hà Nội, Nguyễn Văn B đã có hành vi dùng vam phá khoá lén lút chiếm đoạt 08 xe mô tô gồm: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave màu xanh BKS 19AM- 037.03, trị giá: 16.800.000 đồng của anh Phạm Mạnh Đ; 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave màu trắng BKS: 29M1-796.03, trị giá 16.000.000 đồng của anh Nguyễn Xuân T; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave màu đen BKS: 27B2-127.98, trị giá 17.200.000 đồng của anh H1 A Giao; 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave màu trắng BKS: 29X7-495.85, trị giá 13.490.000 đồng của anh Đinh Văn S; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave màu xanh BKS: 29M1-919.46, trị giá 19.6000.000 đồng của anh Lê Đức A; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen BKS: 29H1-871.65, trị giá 13.196.000 đồng của anh Nguyễn Văn Q; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave màu trắng BKS: 90B1-834.44, trị giá 6.790.000 đồng của anh Trần Văn S1; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 90D1-111.57, trị giá 21.665.000 đồng của anh Trần Nho C.
Sau khi trộm cắp được tài sản, Nguyễn Văn Bình b xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 29M1-796.03 và xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS 27B2- 127.98 cho một người tên “C1” không quen biết trên mạng xã hội được số tiền 7.000.000 đồng chi tiêu cá nhân hết.
Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn B đã chiếm đoạt là 124.741.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện liên tiếp nhiều hành vi phạm tội, chiếm đoạt số tài sản có giá trị 124.741.000 đồng trong thời gian ngắn nên thuộc trường hợp “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội đã truy tố.
- [3] Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là rất táo bạo, liều lĩnh; liên tiếp xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của nhiều công dân; gây mất trật tự trị an, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân trong khu vực nên cần thiết phải xử lý và có hình phạt phù hợp mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt: Sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, nên được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã có tiền án, chưa được xoá án lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ tạm giam từ ngày 27/11/2023, nên thời gian tạm giữ, tạm giam của bị cáo được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.
- [5] Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại là anh Phạm Mạnh Đ, Đinh Văn S, Lê Đức A, Nguyễn Văn Q, Trần Văn S1, Trần Nho C đã nhận lại tài sản, nay không có yêu cầu gì khác nên không xem xét. Người bị hại là anh Nguyễn Xuân T, anh Hàng A G yêu cầu được bồi thường tài sản bị chiếm đoạt nên cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt đã được Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự xác định.
- [6] Về xử lý vật chứng: Biển kiểm soát 29T1- 371.68 không tìm được chủ sở hữu; 01 bộ vam phá khoá thu giữ của B là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- [8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn B 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Buộc Nguyễn Văn B phải bồi thường giá trị tài sản đã chiếm đoạt cho những người bị hại là:
- - Anh Nguyễn Xuân T 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng);
- - Anh Hàng A G 17.200.000 đồng (mười bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
Tổng số tiền Nguyễn Văn B phải bồi thường trả người bị hại là 33.200.000 đồng (ba mươi ba triệu, hai trăm nghìn đồng).
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ vam phá khoá gồm: 01(một) tay công bằng kim loại có chuôi bằng cao su dài 15,4 cm; 01 (một) thanh kim loại hình trụ có một đầu mài nhọn dài 7,8 cm, đường kính 0,9 cm; 01 biển kiểm soát 29T1- 371.68 đã thu giữ của Nguyễn Văn B. (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/4/2024 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.660.000 (Một triệu sáu trăm sáu mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hòa |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản
