Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-PT

Ngày: 16/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thúy Hằng;

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Kim Sang

Ông Trần Thanh Tòng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thanh S, Đỗ Thị Phụng A và Nguyễn Thị Ngọc H, do có kháng cáo của bị cáo Trần Thanh S, Đỗ Thị Phụng A và Nguyễn Thị Ngọc H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. TRẦN THANH SANG; Tên gọi khác: P; sinh ngày 05/8/2004; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: nam; Nơi cư trú: Hẻm C Đường P, khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: làm mướn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; cha: không rõ, mẹ: Trần Kim H1, sinh năm: 1983, vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại.

2. ĐÔ THỊ PHỤNG ANH, Tên gọi khác: không; sinh ngày 02/9/2000; Nơi sinh: tỉnh Tây Ninh; Giới tính: nữ; Nơi cư trú: Tổ F, ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: nội trợ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; cha: Đỗ Hiếu N, mẹ Nguyễn Thị P1; chồng Nguyễn Hiền Đ,

con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm: 2018, nhỏ nhất sinh năm: 2022. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại.

3. NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ, Tên gọi khác: không; sinh ngày 20/6/1997; Nơi sinh: tỉnh Tây Ninh; Giới tính: nữ; Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: nội trợ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; cha: Nguyễn Văn Đ1, mẹ: Trần Thị Mỹ H2; chồng: không có, con: có 01 người sinh năm: 2017. Tiền án, tiền sự: không.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H: Bà Nguyễn Thị H3 – Luật sư Văn phòng L1 Nguyễn thuộc đoàn luật sư thành phố H, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 20 phút ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trước cổng B Trường trung học phổ thông T3 thuộc khu phố E, Phường C, thành phố T, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh T, phối hợp với Công an thành phố T và Đội Kiểm lâm cơ động thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh T bắt quả tang Trần Thanh S điều khiển xe mô tô biển số 70D1-625.80 vận chuyển 01 cá thể động vật sống nghi Rái Cá đang dừng xe trước cổng trường chờ người đến mua. Thu giữ: 01 cá thể động vật nghi là Rái cá còn sống, trọng lượng 700 gam, được đựng trong 01 hộp giấy carton; 01 xe mô tô biển số 70D1-625.80, loại Wave màu sơn trắng - đen - bạc, số máy JA39E1413576, số khung 3916LY0769889 và một số vật chứng khác.

Kết luận giám định động vật số 346/STTNSV ngày 21/3/2023 của V thuộc V, kết luận: Bản ảnh chụp 01 cá thể động vật, gồm 04 ảnh là của loài Rái cá vuốt bé, có tên khoa học Al cinereus. Loài Rái cá vuốt bé (Aonyx cinereus) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Rái cá vuốt bé (Aonyx cinereus) có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kem theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Loài Rái cá vuốt bé (Aonyx cinereus) có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C2.

Quá trình điều tra S khai nhận: do có nhiều người hỏi mua Rái Cá khi S đăng hình ảnh Rái Cá trên mạng xã hội nên S nảy sinh ý định mua Rái Cá bán lại kiếm lời. Khi có người hỏi mua, S yêu cầu người mua chuyển trước số tiền "đặt cọc" theo thỏa thuận vào tài khoản 0110053725 ngân hàng Đ của mẹ ruột tên Trần Kim H1, sinh năm 1983, ngụ ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đã cho S sử dụng. Sau đó S liên hệ với tài khoản Facebook tên "Le Phuc" đặt mua Rái Cá, thỏa thuận "Le Phuc" gửi Rái Cá qua đường giao hàng theo địa chỉ cung cấp, khi giao chụp hình phiếu gửi hàng báo cho S biết, S sẽ thanh toán tiền bằng hình thức chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng A2 số 6180205101244 tên Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1992 ngụ ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh do "Le Phuc" cung cấp. Khi nhận được Rái C, S liên hệ với người mua thỏa thuận địa điểm, hẹn gặp giao Rái C và nhận tiền.

Từ đầu tháng 3/2023 đến ngày bị bắt, qua điều tra chứng minh được Trần Thanh S 03 lần mua Rái Cá từ "Le Phuc" mang về bán lại, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 15/3/2023, Nguyễn Thị Ngọc H sử dụng tài khoản "N" liên hệ với S qua tài khoản "Tran Thanh S1" hỏi mua 01 con Rái Cá nuôi làm "thú cưng", S1 đồng ý bán cho H 01 con Rái Cá nặng khoảng 100 gam với giá 2.500.000 đồng, tiền vận chuyển 100.000 đồng, H đồng ý. Theo thỏa thuận, H chuyển cho S1 200.000 đồng tiền đặt cọc mua Rái Cá từ tài khoản ngân hàng V1 số 1013967193 của H đến tài khoản số 0110053725 của S1 và cho số điện thoại 0377.409.xxx để liên lạc. Sau khi thống nhất, S1 liên hệ với "Le Phuc" yêu cầu gửi 01 con Rái Cá cho S1 đã đặt mua trước đó để bán cho H. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi nhận được Rái Cá để trong thùng giấy bên ngoài ghi chữ "Sóc con" qua dịch vụ vận chuyển xe chở hàng do ông Hà Công P2, sinh năm 1967, ngụ ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh làm chủ giao tại bến xe thị xã H, S1 gọi cho H hẹn địa điểm giao nhận. Khoảng 19 giờ cùng ngày, S1 điều khiển xe mô tô biển số 70D1-625.80 chở theo Rái Cá đến khu vực Cầu K, thuộc ấp B, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh gặp H, tại đây H tiếp tục chuyển khoản 1.400.000 đồng và đưa 500.000 đồng tiền mặt cho S1, còn nợ lại 500.000 đồng hẹn sẽ trả sau. Sau khi mang Rái Cá về nhà nuôi H quay video hình ảnh Rái Cá gửi qua Messenger trao đổi cách nuôi với S1, khoảng ba ngày sau do nuôi nhốt tạm trong thùng carton nên Rái C đi mất không tìm được.

Tại bản kết luận giám định số 1414 /STTNSV ngày 06/9/2023 của V thuộc V, kết luận: 01 cá thể động vật trong bản ảnh và video gửi giám định là loài Rái Cá thuộc họ Chồn (M). Do hình ảnh và Video mờ, cá thể Rái Cá non nên không xác định được chính xác loài Rái cá nào.

Các loài Rái cá đều có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ và đồng thời có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Các loài Rái cá có tên trong Phụ lục I và Phụ lục II Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C2.

- Lần thứ hai: Ngày 12/3/2023, Đỗ Thị Phụng A sử dụng tài khoản facebook "Phụng A" liên hệ với S1 qua tài khoản facebook "Tran Thanh S1" hỏi mua 01 con Rái Cá nuôi làm "thú cưng", S1 đồng ý bán cho Phụng A với giá 3.000.000 đồng. Ngày 13/3/2023, Phụng A sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số [...] của mình chuyển số tiền 1.500.000 đồng vào tài khoản 0110053725 của S1 đặt mua Rái Cá. Nhận được tiền, S1 liên hệ với "Le Phuc" yêu cầu chuyển 01 con Rái Cá cho mình, đến ngày 16/3/2023 khi nhận được Rái C để trong thùng giấy bên ngoài ghi chữ "Sóc con" như lần đầu tại bến xe thị xã H, S1 liên lạc với Phụng A hẹn địa điểm rồi điều khiển xe mô tô biển số 70D1-625.80 chở theo Rái Cá đến nhà P tại ấp T, xã T, thành phố T giao bán và nhận số tiền 1.500.000 đồng còn lại vào ngày 17/3/2023.

Tại bản kết luận giám định số 415/STTNSV ngày 30/3/2023 của V (giám định theo bản ảnh lập ngày 27/3/2023 là cá thể động vật do Phụng A giao nộp) kết luận: Bản ảnh chụp 01 cá thể động vật, gồm 04 ảnh là của loài Rái Cá vuốt bé, có tên khoa học Al cinereus.

Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật: Loài Rái Cá vuốt bé (Aonyx cinereus) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Rá C1 vuốt bé (Aonyx cinereus) có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Loài Rái Cá vuốt bé (Aonyx cinereus) có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C2.

- Lần thứ 3: Ngày 15/3/2023, người có tên tài khoản "Hau Nguyen" nhắn tin cho S1 qua tài khoản "Tran Thanh S1" hỏi mua 01 con Rái Cá, S1 đồng ý bán cho "Hau Nguyen" 01 con Rái Cá giá 4.000.000 đồng. Ngày 16/3/2023, "Hau Nguyen" chuyển cho S1 1.000.000 đồng tiền đặt cọc mua Rái Cá qua tài khoản trung gian số 0515186886666 của Tổng Công ty D vào tài khoản số 0110053725 của S1, thỏa thuận trả tiền mặt số tiền còn lại khi nhận Rái Cá. "Hau Nguyen" cho S1 số điện thoại 0384.669.xxx (tên đăng ký không chính chủ là ông Thiều Văn L, sinh năm 1965, ngụ xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội sở hữu) để liên lạc. Sau khi thỏa thuận, S1 liên hệ với "Le Phuc" yêu cầu gửi 01 con Rái Cá để bán cho "Hau Nguyen". Khoảng 11 giờ ngày 17/3/2023, S1 điều khiển xe mô tô biển số 70D1-625.80 chở theo Rái Cá đến trước cổng B Trường trung học phổ thông T3 chờ "Hau Nguyen" đến giao nhận Rái Cá bị kiểm tra bắt quả tang.

Ngoài ra, quá trình điều tra S1 khai nhận còn thực hiện hành vi bán 02 cá thể Rái Cá trên địa bàn thị xã H, tỉnh Tây Ninh cho người mua có tên tài khoản facebook "Nguyễn Quốc T1" và tên tài khoản "Nguyễn Duy T2" nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển tin báo tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Tây Ninh giải quyết.

Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ người có tài khoản Facebook "Nguyễn Quốc T1". Đối với tài khoản Facebook "Nguyễn Duy T2" xác định là Nguyễn Duy T2, sinh ngày 02 tháng 6 năm 2000, ngụ ấp E, xã M, huyện B, tỉnh Long An. Qua làm việc, T2 khai có đặt mua 01 con vật từ Trần Thanh S và nhận được con vật đã mua có bề ngoài giống Chồn, màu xám đen, có bốn chân. T2 mang về nuôi khoảng một tuần, không chụp ảnh, quay phim, sau đó do không đóng cửa lồng nên con vật đã bỏ đi mất không tìm được. Cơ quan điều tra không thu được cá thể Rái C sống và hình ảnh Rái Cá đã bán, không đủ cơ sở tiến hành trưng cầu giám định và kết luận Trần Thanh S có hành vi mua bán 02 cá thể Rái Cá trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh S, bị cáo Đỗ Thị Phụng A, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 244; điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh S 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thị Phụng A 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 244, điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.

Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số 21 ngày 05/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Tây Ninh đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 102, tờ bản đồ số 10, diện tích 17039m² toạ lạc xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh do bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, bị cáo Trần Thanh S có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Ngày 01 tháng 5 năm 2024, bị cáo Đỗ Thị Phụng A có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Ngày 01 tháng 5 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo S, A, H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H luật sư Nguyễn Thị H3 trình bày: Bị cáo H nhất thời phạm tội, khi mua không biết là động vật quý hiếm, mục đích mua để nuôi làm thú cưng, không vì mục đích lợi nhuận, bị cáo là mẹ đơn thân hiện đang nuôi con nhỏ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thanh S; đối với bị cáo Đỗ Thị Phụng A và Nguyễn Thị Ngọc H mục đích mua để nuôi làm thú cưng, không vì mục đích lợi nhuận do đó xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo A và bị cáo H, cho bị cáo A và bị cáo H hưởng án treo, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện:

Vào các ngày 15, 16/3/2023 trên địa bàn Huyện D và thành phố T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Trần Thanh S buôn bán trái phép 02 cá thể Rái Cá là động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, bị cáo Đỗ Thị Phụng A để nuôi, nhốt trái phép. Ngày 17/3/2023, bị cáo Trần Thanh S tiếp tục vận chuyển trái phép 01 cá thể Rái Cá đến trước Trường trung học phổ thông T3 thuộc khu phố E, Phường C, thành phố T để bán cho người khác bị bắt quả tang. Kết quả giám định thể hiện cả 03 cá thể rái cá bị cáo Trần Thanh S bán là Rái cá vuốt bé là loài có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kem theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ; có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C2. Nguồn gốc 03 con Rái Cá là do bị cáo Trần Thanh S mua từ người bán có tên tài khoản Facebook "Le Phuc" ở Thành phố Hồ Chí Minh về bán lại cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, bị cáo Đỗ Thị Phụng A.

Bị cáo Trần Thanh S, bị cáo Đỗ Thị Phụng A, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Hành vi nuôi, nhốt, mua bán động vật quý hiểm của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

Cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Trần Thanh S, bị cáo Đỗ Thị Phụng A, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại Điều 244 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật. Bị cáo Trần Thanh S có hành vi buôn bán 03 con Rái Cá nên phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đỗ Thị Phụng A, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H có hành vi mua, nuôi, nhốt trái phép động vật quý, hiếm, nguy cấp là 01 con rái cá nên phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Thanh S; Đỗ Thị Phụng A và Nguyễn Thị Ngọc H thấy rằng:

Đối với bị cáo Trần Thanh S: Bị cáo S có hành vi buôn bán 03 con Rái cá, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, tự nguyện khai ra hành vi phạm tội trước. Khi xét xử cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đã căn cứ điểm a khoản 2 Điều 244; điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo 03 năm tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội của bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo không có chứng cứ mới chứng minh nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo S.

Đối với bị cáo Đỗ Thị Phụng A và Nguyễn Thị Ngọc H đã có hành vi mua, nuôi, nhốt trái phép 01 con Rái cá, 02 bị cáo phạm tội do thiếu hiểu biết về các quy định của pháp luật, mục đích nuôi động vật để giải trí, làm thú cưng, không vì mục đích thu lợi bất chính. Bị cáo A hiện đang nuôi con nhỏ 02 tháng tuổi, cha bị bệnh ung thư, mẹ mất sớm, bị cáo có ông cố Nội là liệt sĩ nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Bị cáo H là mẹ đơn thân, hiện đang nuôi con nhỏ. Bản thân 02 bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt các chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước, có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự. Đối chiếu Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao được sửa đổi bổ sung Nghị quyết 02/NQ-HĐTP ngày 07/9/2022, 02 bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo, do đó không cần thiết cách ly 02 bị cáo ra ngoài xã hội cũng đủ tính chất răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Đối với yêu cầu kháng cáo xem xét miễn, giảm hình phạt bổ sung của bị cáo H thấy rằng: Bị cáo H mua 01 cái Rái cá về nuôi không vì mục đích lợi nhuận cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H do có tài sản là không phù hợp, không đảm bảo tính công bằng. Do đó Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.

Các bị cáo không tranh luận.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên toà và lời bào chữa của luật sư có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị cáo S phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo A, bị cáo H không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh S.

- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Phụng A và bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H.

- Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh S, bị cáo Đỗ Thị Phụng A, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm".

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 244; điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh S 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thị Phụng A 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Thị Phụng A cho UBND xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

“Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

- Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 244, điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H cho UBND xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

“Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Hủy Lệnh kê biên tài sản số 21 ngày 05/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Tây Ninh đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 102, tờ bản đồ số 10, diện tích 17.039m² toạ lạc xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh do bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo A, H không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 (TANDTC);
  • - VKSND. TTN;
  • - TAND. TP Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS. TP Tây Ninh;
  • - Công an TPTN;
  • - Phòng PV 06 CATTN;
  • - Phòng lý lịch STP. TTN;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án HSPT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 85/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tran Thanh S tội mua ban dong vat quy hiem
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger