|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 85/2024/HS-PT Ngày 16-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
- Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc
- Ông Đào Trọng Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/HSPT ngày 18/6/2024 đối với bị cáo Phạm Phước T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Các bị cáo có kháng cáo:
-
Phạm Phước T, sinh năm 1996 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm C, sinh năm 1965 và bà Lê Thị C1, sinh năm 1971; Vợ Lê Thị Bích H, sinh năm 1997 và có 01 người con sinh năm 2022;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15 tháng 01 năm 2023, hiện đang tại ngoại tại ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (Có mặt). -
Võ Văn M, sinh năm 1993 tại Bình Định; Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn H, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện nay: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Ngọc P, sinh năm 1953 (Đã chết) và bà Võ Thị Q, sinh năm 1953; Chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15 tháng 01 năm 2023, hiện đang tại ngoại tại thôn H, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt). -
Nguyễn Anh T1, sinh năm 1990 tại Bình Định; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi ở hiện tại: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân Á, sinh năm 1963 và bà Trình Thị H1, sinh năm 1959; Vợ Võ Thị Đ, sinh năm 1991 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2017 và nhỏ nhất sinh năm 2020;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15 tháng 01 năm 2023, hiện đang tại ngoại tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 02/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C nhận được phiếu chuyển nguồn tin về tội phạm của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với nội dung: Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ ốm đau cho người lao động của Công ty TNHH Đ1; Địa chỉ: Khu công nghiệp C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Đ1 phát hiện hồ sơ của Võ Văn M, Phạm Phước T, Nguyễn Anh T1 có dấu hiệu sử dụng Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội nghi vấn giả.
Võ Văn M sử dụng “Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội đề số R6762/KCB ngày 29/07/2023, đứng tên ông Võ Văn M, có hình dấu tròn Bệnh viện B, có chữ ký đề tên BS.CKII Dương T2, chữ ký đề tên Bs.CKI Võ Thị T3”; Nguyễn Anh T1 sử dụng “Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội đề số R6762/KCB ngày 29/07/2023, đứng tên Nguyễn Anh T1, có hình dấu tròn Bệnh viện B, có chữ ký đề tên BS.CKII Dương T2, chữ ký đề tên Bs.CKI Võ Thị T3”; Phạm Phước T sử dụng “Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội đề số R6762/KCB ngày 21/07/2023, đứng tên Phạm Phước T, có hình dấu tròn Bệnh viện B, có chữ ký đề tên BS.CKII Dương T2, chữ ký đề tên Bs.CKI Võ Thị T3”.
Bảo hiểm xã hội tỉnh Đ1 đã làm việc, xác minh tại Bệnh viện B, cơ quan xác định Bệnh viện B không cấp 03 giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội nêu trên.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã triệu tập Võ Văn M, Nguyễn Anh T1 và Phạm Phước T lên làm việc. Tại đây, M, T1 và T khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Phạm Phước T làm công nhân tại công ty TNHH Đ1 có trụ sở tại xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vì cần nghỉ 02 ngày 21-22/07/2023 để giải quyết công việc gia đình nên tìm cách mua Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội của bệnh viện giả để xin được nghỉ làm. Ngày 20/07/2023, Phạm Phước T lên mạng xã hội Facebook, dùng tên tài khoản “Cu Thiện” để tìm kiếm mua 01 Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội giả. Sau đó, T liên hệ được một người không rõ họ tên để thỏa thuận mua với giá tiền tính theo số ngày nghỉ, 01 ngày là 100.000 đồng, T làm giấy nghỉ 02 ngày là 200.000 đồng. Thỏa thuận xong thì T cung cấp tên, tuổi và mã số bảo hiểm y tế cho người bán. Đến ngày 21/07/2023 thì có người giao hàng (không rõ họ tên, địa chỉ) liên lạc qua ứng dụng M1 đến nhà giao cho T một hộp giấy, bên trong có 01 Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội mang tên Phạm Phước T, thời gian nghỉ là 02 ngày từ 21/07/2023 đến ngày 22/07/2023, T đã thanh toán đầy đủ số tiền 200.000 đồng tiền mặt. Ngày 24/07/2023 T đã nộp giấy trên vào Phòng nhân sự của Công ty TNHH Đ1 để được nghỉ cho đúng quy định Công ty và để hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội. Đến ngày 17/8/2023, Phòng nhân sự có mời T lên làm việc với Cơ quan bảo hiểm xã hội về việc Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội của T là giả. Tại đây, T đã khai nhận vì sợ ảnh hưởng công việc nên T đã nói dối việc T bị bệnh.
Nguyễn Anh T1 và Võ Văn M (là em vợ của T1) làm công nhân tại công ty TNHH Đ1. Vào khoảng chiều ngày 24/7/2023, vợ T1 gọi điện báo con bị bệnh và nói T1 về Bình Định ngay. T1 rủ M cùng về, M đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, M điều khiển xe mô tô qua nhà trọ của T1 để chở T1 về Bình Định. Đến gần trưa ngày 25/7/2023 thì T1 và M về đến Bình Định. Do T1 đã nghỉ hết phép ở Công ty, nếu nghỉ thêm sẽ bị đuổi việc, T1 nghĩ đến việc sẽ xin giấy bệnh viện để nộp cho công ty nên T1 nảy sinh ý định mua Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội trên mạng để nộp. Sau đó, T1 lên mạng xã hội Facebook, dùng tên đăng nhập “Tài N” để tìm kiếm mua Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội của bệnh viện. Sau đó, T1 tìm được 01 tài khoản facebook (không nhớ tên gì) chuyên bán giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội”. T1 gọi điện thoại hỏi M có mua không thì M đồng ý mua và nhờ T1 mua được thì nộp vào phòng nhân sự của Công ty cho M luôn. T1 đã liên hệ người này để thỏa thuận mua với giá tiền tính theo số ngày nghỉ, nghỉ 01 ngày là 100.000 đồng, T1 mua 02 Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội bệnh viện Bà Rịa giả, 01 giấy cho ông T1 và 01 giấy cho M, thời gian nghỉ là 05 ngày với số tiền 1.000.000 đồng. Thỏa thuận xong thì T1 cung cấp tên, tuổi và mã số bảo hiểm y tế của M và bản thân cho người bán để làm Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội bệnh viện Bà Rịa giả. Đến ngày 30/07/2023 thì có người lạ mặt liên hệ với T1 đến phòng trọ giao cho T1 một phong bì thư, bên trong có 02 Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội mang tên Nguyễn Anh T1 và Võ Văn M, thời gian nghỉ là 05 ngày từ 25/07/2023 đến ngày 29/07/2023, T1 thanh toán đầy đủ tiền cho 02 Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội bệnh viện Bà Rịa giả là 1.000.000 đồng tiền mặt. Ngày 31/07/2023 T1 nộp 02 giấy trên vào Phòng nhân sự của Công ty TNHH Đ1 để được nghỉ cho đúng quy định Công ty và để hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội. Sau khi nộp khoảng 20 ngày thì Phòng nhân sự mời T1 và M lên làm việc với Cơ quan bảo hiểm xã hội về việc giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội của T1 và M là giả.
-
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Phước T, Võ Văn M, Nguyễn Anh T1 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
- - Căn cứ khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phạm Phước T 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để chấp hành án.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Võ Văn M 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để chấp hành án.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Anh T1 06 (Sáu) tháng tù, thời tù tính từ ngày bắt để chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 09 tháng 5 năm 2024, các bị cáo kháng cáo xem xét cho các bị cáo hưởng chính sách khoan hồng với mức hình phạt nhẹ nhất.
-
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin được hưởng án treo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Các bị cáo có kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Phạm Phước T, Võ Văn M, Nguyễn Anh T1 06 (S) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Phước T, Võ Văn M, Nguyễn Anh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của các bị cáo Phạm Phước T, Võ Văn M, Nguyễn Anh T1 làm và gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
-
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:
Vào khoảng tháng 7/2023, Phạm Phước T lên mạng xã hội Facebook tìm người làm giả giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội mang tên Phạm Phước T với giá 200.000 đồng; Nguyễn Anh T1 lên mạng xã hội Facebook tìm người làm giả 02 giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội mang tên Võ Văn M và Nguyễn Anh T1 với giá 1.000.000 đồng, sau đó T, M và T1 nộp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội giả vào Phòng nhân sự của Công ty TNHH Đ1 để được nghỉ cho đúng quy định Công ty và để hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội. Sau đó, trong quá trình tiếp nhận hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ ốm đau cho nguời lao động của Công ty TNHH Đông Phương Vũng Tàu, Cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Đ1 phát hiện hồ sơ của Võ Văn M, Phạm Phước T, Nguyễn Anh T1 sử dụng Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội giả nên đã tố cáo đến cơ quan Công an.
Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
-
[3] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý con dấu, tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức. Xét thấy các bị cáo đều là công nhân lao động làm công ăn lương, chỉ vì muốn nghỉ phép có lý do để không phải bị mất việc và về quê thăm con bị bệnh nên đã mua “Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội”; cụ thể bị cáo T mua giấy nghỉ 02 ngày giá 200.000 đồng; bị cáo T1 và bị cáo M (em vợ bị cáo T1) mua giấy nghỉ 05 ngày giá 500.000 đồng cho mỗi bị cáo. Bản chất thật sự các bị cáo đã hết ngày phép và muốn nghỉ có phép vì sợ bị mất việc; bảo hiểm cũng chưa chi trả, thiệt hại chưa có; tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể; các bị cáo có con còn nhỏ, là lao động chính; có nhiều tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo có nhân thân tốt. Do đó không cần thiết cách ly các bị cáo mà phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục. Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo 06 tháng tù giam là quá nghiêm khắc. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
-
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Phước T, Võ Văn M, Nguyễn Anh T1; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Phước T, Võ Văn M, Nguyễn Anh T1 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
- - Phạm Phước T 30 (Ba mươi) triệu đồng.
- - Võ Văn M 30 (Ba mươi) triệu đồng.
- - Nguyễn Anh T1 30 (Ba mươi) triệu đồng.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải nộp.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hiếu |
Bản án số 85/2024/HS-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 85/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Phước T và đồng phạm Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
