|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 85/2024/HS-ST Ngày: 15 - 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh
Ông Võ Duy Bảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Quang Văn D, sinh ngày: 20 tháng 10 năm 1981 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; tên gọi khác: không; nơi cư trú: bản Mường Phú, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quang Văn K, sinh năm 1959 và bà Vi Thị H, sinh năm 1959; có vợ: Lương Thị M, sinh năm 1979 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong tháng 10 năm 2023, Quang Văn D gặp một phụ nữ (không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể) tại khu vực bản Mường Phú, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Qua nói chuyện, hai bên trao đổi số điện thoại để liên lạc. Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 17 tháng 12 năm 2023, người phụ nữ này sử dụng số điện thoại 0966.918.xxx liên lạc đến số điện thoại 0338.318.xxx của D, đặt vấn đề mua 04 gói ma túy hồng phiến với giá 2,5 triệu đồng/ 01 gói, tổng 04 gói là 10 triệu đồng và D đã đồng ý.
Khoảng 09 giờ cùng ngày, D đi một mình vào khu vực rừng núi thuộc bản Mường Phú, xã T, gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ lai lịch hoặc địa chỉ cụ thể). Trong quá trình trò chuyện, D biết được người này bán ma túy nên đặt vấn đề mua 04 (bốn) gói ma túy hồng phiến. Sau khi trao đổi, cả hai thống nhất mua bán 04 gói ma túy hồng phiến với giá 08 triệu đồng (2.000.000 đồng/01 gói) và hẹn ngày 19/12/2023 sẽ giao dịch. Khoảng 8 giờ ngày 19/12/2023, D đi đến địa điểm đã hẹn gặp người đàn ông dân tộc Mông và đưa 8.000.000đ (tám triệu đồng) rồi nhận 04 (bốn) gói ma túy hồng phiến mang về nhà cất giấu.
Sau khi mua được ma tuý, D liên lạc lại với người phụ nữ và hẹn giao dịch mua bán ma túy vào chiều ngày 20/12/2023 tại khu vực thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Khoảng 12 giờ ngày 20/12/2023, Quang Văn D mang theo 04 (bốn) gói ma túy đón xe khách từ nhà xuống khu vực Quốc lộ D thuộc khối T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Khoảng 16 giờ cùng ngày, đến nơi D lấy ma túy giấu vào bụi cây bên lề đường, trong khi đang chờ người phụ nữ đến giao dịch mua bán thì Tổ công tác Công an huyện A phối hợp Công an thị trấn T kiểm tra hành chính, D đã tự nguyện lấy 04 (bốn) gói ma túy cất giấu trong bụi cây giao nộp cho lực lượng chức năng. Tổ công tác thu giữ vật chứng đưa D về trụ sở Công an thị trấn T, huyện Q tiến hành lập các biên bản theo quy định của pháp luật.
Kết luận giám định số 43/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 26/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “04 (bốn) mẫu viên nén hình tròn màu đỏ, giống nhau (ký hiệu từ M1 đến M4) thu giữ của Quang Văn D gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Số viên nén hình tròn màu đỏ, giống nhau (04 gói) thu giữ của Quang Văn D có tổng khối là 85,2 gam (tám mươi lăm phẩy hai gam)”.
* Vật chứng vụ án: 85,2 gam ma túy (Methamphetamine), lấy mẫu giám định 2,7 gam còn lại 83,15 gam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung loại Galaxy A50s, mặt sau màu đen, thu giữ của Quang Văn D.
Bản Cáo trạng số 90/CT-VKS-P1 ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Quang Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quang Văn D từ 16 năm tù đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành nên đề nghị Toà án tịch thu tiêu huỷ; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động là phương tiện sử dụng việc phạm tội.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận:
Người bào chữa cho bị cáo Quang Văn D không tranh luận về tội danh mà bị cáo bị truy tố và xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, khi kiểm tra hành chính thì không phát hiện ma tuý trong người bị cáo, nhưng bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên đã khai ra chỗ cất giấu ma tuý, giúp cơ quan điều tra làm sáng tỏ vụ án, bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo chưa thu lợi bất chính, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo. Do đó, xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Quang Văn D đồng ý với phần bào chữa của người bào chữa về tội danh, hình phạt và không tranh luận với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Sau khi bị bắt, bị tạm giam, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Quang Văn D thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với Bản kết luận giám định chất ma túy, phù hợp với lời khai của người có quyền lời nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 19/12/2023, Quang Văn D đến khu vực rừng thuộc bản Mường Phú, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An mua 85,2 gam ma túy (Methamphetamine) với giá 8.000.000₫ của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết rõ lai lịch, địa chỉ) mục đích để bán kiếm lời. Ngày 20/12/2023, Quang Văn D đưa số ma túy trên xuống khu vực Quốc lộ D thuộc khối T, thị trấn T, huyện Q để bán cho một người phụ nữ (không biết rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Khi đang đứng chờ để giao dịch mua bán ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện A phối hợp với Công an thị trấn T kiểm tra hành chính thì Quang Văn D tự thú về hành vi phạm tội của mình và tự nguyện lấy gói ma túy cất dấu trong bụi cây ra giao nộp.
Với hành vi mua bán trái phép 85,2 gam ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích thu lợi bất chính, thuộc trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Quang Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự thú về hành vi phạm tội của mình, Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét hành vi, tính chất vụ án: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là nguồn gốc sâu xa làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi mà vẫn thực hiện nên cần áp dụng hình phạt nghiêm nhằm răn đe đối với bị cáo và để phòng ngừa tội phạm trong xã hội.
Nhưng xét thấy, khi kiểm tra hành chính không phát hiện ma tuý trong người bị cáo, nhưng bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội nên đã tự thú và chỉ nơi cất giấu ma tuý, giúp cơ quan điều tra làm sáng tỏ vụ án. Do đó, cần xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ hơn đề nghị của Viện kiểm sát, để bị cáo cố gắng lao động cải tạo trở thành người tốt và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Quang Văn D không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về các nội dung khác của vụ án:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo D khai là người đã bán ma tuý cho bị cáo. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng bị cáo không biết lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ, xử lý trong vụ án.
Đối với Lương Thị M (sinh năm 1979, trú tại: Bản M, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An - vợ Quang Văn D) đăng ký số thuê bao 0338318887 (do Quang Văn D sử dụng). Quá trình điều tra xác định M không liên quan đến việc D mua bán trái phép chất ma túy nên không phạm tội.
Đối với số thuê bao 0966918070, theo D khai đã liên lạc với D để mua ma túy, Cơ quan điều tra xác định được số thuê báo đó do Trần Đăng T (sinh năm 1998, trú tại: Thôn A, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An) sử dụng. Làm việc với T, T khai không quen biết Quang Văn D và không liên quan đến hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy của D nên không có căn cứ để xử lý đối với T.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về vật chứng vụ án:
- - Ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động mà bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo Quang Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quang Văn D 15 (mười lăm) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 20/12/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Quang Văn D.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ 83,15 gam ma tuý Methamphetamine còn lại sau khi giám định cùng vỏ niêm phong cũ.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã qua sử dụng. Số IMEI 1: 358193101971746, số IMEI 2: 358194101971744.
Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Quang Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Quang Văn D được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | THẨM PHÁN |
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Hồ Cảnh Võ Duy Bảo |
Phạm Hồng Trang |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Trang |
6
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán ma túy
