TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/HS-PT Ngày: 15-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mỹ
Ông Phạm Minh Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 326/2023/TLPT-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thanh B và đồng phạm. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh B và bị cáo Nguyễn Thanh N đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 96/2023/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thanh B, sinh năm 1962; tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Trương Thị D (chết); Có vợ tên Trương Mai C, sinh năm 1968 và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Thanh N, năm 1994; tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Thanh B và bà Trương Mai C; Vợ tên Lê Thúy V, sinh năm 1998; có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh B là cha của Nguyễn Thanh N. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/02/2023, ông Võ Văn H1, điều khiển xe mô tô biển số 66F1- 093.28, đến nhà vợ chồng B và Trương Mai C để đòi số tiền 4.000.000 đồng do bà C thiếu nợ anh H1 trước đó thì xảy ra cự cãi nhau. Lúc này, H1 lấy điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen, dự định ghi âm, ghi hình lại vụ việc thì B giật lấy chiếc điện thoại của H1, làm chiếc điện thoại bị rơi xuống nền gạch nhưng không hư hỏng gì. Ông H1 ngồi lên xe định chạy đi thì B chạy vào nhà lấy 01 thanh kim loại màu trắng, loại sắt hộp, hình chữ nhật kích thước 3,5cm x 2cm, dài khoảng 74cm, trọng lượng 500gam, 01 đầu được cắt xéo (nhọn) cầm trên tay phải lao ra đánh trúng vai trái của H1 01 cái làm sưng bầm, ông H1 dùng tay đánh lại B nhưng không gây thương tích gì thì bà C chạy đến can ngăn nên ông H1 bỏ chạy. B tiếp tục cầm thanh kim loại đuổi theo H1. Lúc này, Nguyễn Thanh Nghĩa là con của B và C đi làm về thấy sự việc nên chạy vào nhà lấy 01 thanh kim loại, loại ống tuýp, thân hình tròn màu trắng, đường kính 02cm, chiều dài 60cm, trọng lượng 250 gam cầm trên tay phải rồi cùng B đuổi theo H1 được khoảng 20 mét thì B dùng thanh kim loại đánh trúng vào cẳng chân phải của H1 02 cái làm gãy hở xương chày phải. H1 ngồi xuống đường thì N chạy đến dùng thanh kim loại đánh trúng vào phía sau thắc lưng của H1 01 cái gây phù nề thì người dân đến can ngăn nên B và N không đánh nữa mà cầm hung khí đi vào nhà. Ông H1 được người dân đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu và điều trị. Đến ngày 10/02/2023, H1 xuất viện và làm đơn tố giác yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N về hành vi cố ý gây thương tích cho mình.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 185/TgT ngày 21/4/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận: Võ Văn H1 bị 02 vết biến đổi sắc tố da vùng dưới bả vai trái, vùng giữa lưng, mỗi vết 01%; vết thương phần mền mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải, tỷ lệ 02%; gãy thân xương chày phải, can xấu, trục lệch, tỷ lệ 18%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 22%. Tại thời điểm giám định, theo nguyên tắc cộng lùi. Các tổn thương trên do vật sắc tày gây ra và do ngoại lực tác động.
Về vật chứng tạm giữ gồm: 01 thanh kim loại màu trắng, loại ống tuýp hình tròn, đường kính 02cm, chiều dài 60cm, trọng lượng 250 gam và 01 thanh kim loại, màu trắng, loại sắt hộp, hình chữ nhật, kích thước 3,5x02 cm, chiều dài 74cm, trọng lượng 500 gam, có 01 đầu cắt xéo (nhọn).
Đối với 01 thanh kim loại gồm 03 đoạn nối tiếp nhau, tổng chiều dài 62cm, một đầu thanh kim loại có bao lớp nhựa có gai, màu đen của Nguyễn Thanh N không liên quan đến vụ án nhưng tự nguyện giao nộp. Tại kết luận giám định số 1021/KL-KTHS ngày 19/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận đây là dùi cui kim loại thuộc công cụ hỗ trợ nên đã chuyển Công an thành phố C xử lý theo quy định.
Đối với xe mô tô biển số 66F1-093.28 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, 01 nón bảo hiểm màu trắng. Đây là tài sản của vợ chồng Võ Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thúy H2, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả lại cho chủ sở hữu xong.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Văn H1 yêu cầu bị cáo B và N liên đới bồi thường chi phí điều trị, ngày công lao động, tổn thất tinh thần, tổng cộng số tiền là 80.000.000 đồng. Các bị cáo B và N đồng ý liên đới bồi thường theo yêu cầu của bị hại là anh B và đã liên đới bồi thường cho anh H1 số tiền 35.000.000 đồng, số tiền còn lại trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng đến khi kết thúc. Người bị hại đã có đơn xin bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 96/2023/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.
- Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 08 tháng 11 năm 2023, các bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thanh N cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, bị cáo B có cung cấp tình tiết mới là bản thân bị cáo bị bệnh lao phổi nặng, bị cáo N cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ bị cáo mới sinh con, cha bị cáo bị bệnh lao phổi, mẹ bị bệnh tim; bị cáo đã cùng bị cáo B tiếp tục bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại xin tiếp tục làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo, giảm cho các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N mỗi bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N không tham gia tranh luận. Lời nói sau cùng, cả hai bị cáo đầu xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Do mâu thuẫn từ việc bị Võ Văn H1 đến nhà đòi số tiền nợ mà bà C (vợ B) thiếu H1 trước đó, Nguyễn Thanh B chạy vào nhà lấy 01 thanh kim loại lao ra đánh trúng vai trái của H1 01 cái làm sưng bầm, bị hại H1 dùng tay đánh lại B nhưng không gây thương tích gì thì bà C chạy đến can ngăn nên anh H1 bỏ chạy, B tiếp tục cầm thanh kim loại đuổi theo H1. Lúc này, Nguyễn Thanh Nghĩa là con của B và C đi làm về thấy sự việc nên lấy 01 thanh kim loại rồi cùng B đuổi theo H1 được khoảng 20 mét thì B dùng thanh kim loại đánh trúng vào cẳng chân phải của H1 02 cái làm gãy hở xương chày phải. H1 ngồi xuống đường thì N chạy đến dùng thanh kim loại đánh trúng vào phía sau thắt lưng của H1 01 cái gây thương tích với tổng tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 22%.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh Nghĩa 1 nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà các bị cáo đã cùng nhau dùng thanh kim loại gây thương tích cho bị hại. Các bị cáo nhận thức được thanh kim loại, loại sắt hộp, hình chữ nhật kích thước 3,5cm x 2cm, dài khoảng 74cm, trọng lượng 500gam và thanh kim loại, loại ống tuýp, đường kính 02cm, chiều dài 60cm, trọng lượng 250 gam là hung khí nguy hiểm, nhận thức được việc dùng các thanh kim loại này tác động vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho bị hại bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 22%, chứng tỏ việc phạm tội của các bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, các bị cáo B, N cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, bị cáo B có cung cấp tình tiết mới là bản thân bị cáo bị bệnh lao phổi nặng, bị cáo N cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ bị cáo mới sinh con, cha bị cáo bị bệnh lao phổi, mẹ bị bệnh tim; bị cáo đã cùng bị cáo B tiếp tục bồi thường thiệt hại cho bị hại theo quyết định bản án sơ thẩm (đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã bồi thường được 65.000.000 đồng), được bị hại tiếp tục làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh Nghĩa 1 hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N, sửa phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N.
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo Nguyễn Thanh B và Nguyễn Thanh N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 85/2024/HS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 85/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích điểm đ khoản 2 Điều 134
