TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14/8/2024 Về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Hồng Tâm.
2. Bà Dương Hạ Uyên.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang (Số B Hồ Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 24/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Thu M, sinh năm: 1996; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Bị đơn: Anh Trần Văn M1, sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/2/2024, lời khai trong trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn- chị Hồ Thị Thu M trình bày:
Về hôn nhân: Sau một thời gian tìm hiểu chị Hồ Thị Thu M và anh Trần Văn M1 quyết định đi đến kết hôn. Cả hai tự nguyện tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 12/7/2017. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nhà của bố mẹ anh M1). Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cả hai bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, hai vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra gây gổ, cãi vả. Trước đây, chị M đã từng nộp đơn ly hôn nhưng được Tòa án hòa giải để về lại chung sống với nhau nhưng chỉ được một thời gian hai vợ chồng lại tiếp tục mâu thuẫn. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đỉnh điểm vào khoảng đầu năm 2023, anh M1 đã đuổi chị M ra khỏi nhà, chị M quyết định đưa các con về nhà ngoại sống và hai vợ chồng sống ly thân từ đó. Trong thời gian sống ly thân cả hai không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, chị M cũng có đưa các con về thăm ông bà nhưng không gặp anh M1, chỉ đưa các con về chơi vài hôm rồi lại đến đón về. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cả hai không hòa giải đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu Tòa án giải quyết để chị M được ly hôn với anh M1.
- Về con chung: Chị M xác nhận vợ chồng có 03 con chung tên là: Trần Nhật H, sinh ngày: 13/8/2017; Trần Nhật H1, sinh ngày: 04/5/2019 và Trần Nhật L, sinh ngày: 24/1/2022, cả 03 con chung đang ở với chị M.
Tại đơn khởi kiện, chị M yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi và yêu cầu anh Trần Văn M1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 4.500.000 đồng cho cả 03 con chung. Tuy nhiên, do anh Trần Văn M1 yêu cầu nuôi dưỡng hai cháu lớn và cháu H có nguyện vọng muốn ở với anh M1 sau khi vợ chồng ly hôn nên tại phiên tòa chị M đồng ý giao hai con chung Trần Nhật H và Trần Nhật H1 cho anh M1 nuôi dưỡng và chị M nuôi dưỡng cháu Trần Nhật L, không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.
- Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị M xác nhận chị và anh M1 không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 02 tháng 7 năm 2024, bị đơn- anh Trần Văn M1 trình bày:
Về hôn nhân: Anh Trần Văn M1 và chị Hồ Thị Thu M tìm hiểu nhau một thời gian thì quyết định đi đến kết hôn. Cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P. Sau khi kết hôn cả hai chung sống tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn cãi vả, chị M đã đưa các con về nhà ngoại sinh sống. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay chị M có đơn xin ly hôn thì anh M1 không đồng ý ly hôn, nếu chị M vẫn nhất quyết muốn ly hôn thì cứ đơn phương xin ly hôn.
Về con chung: Anh M1 cũng xác nhận vợ chồng có 03 con chung như chị M đã trình bày. Nếu ly hôn anh M1 yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung là Trần Nhật H và Trần Nhật H1, còn con chung Trần Nhật L giao cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh M1 không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, các bên đương sự đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thu M, cho chị M được ly hôn với anh Trần Văn M1.
- - Về con chung: Giao 02 con chung: Trần Nhật H, sinh ngày 13/8/2017 và Trần Nhật H1, sinh ngày 04/5/2019 cho anh Trần Văn M1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi; giao con chung Trần Nhật L, sinh ngày 24/1/2022 cho chị Hồ Thị Thu M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giao dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi. Chị M và anh M1 không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con nên không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.
- Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Anh Trần Văn M1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh M1.
[2] Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Thu M và anh Trần Văn M1 đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 12/7/2017, cả hai kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện nên hôn nhân của chị M và anh M1 là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng chị M và anh M1 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nhau nên không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra gây gổ, cãi vả nhau. Chị M, anh M1 sống ly thân từ năm 2023 đến nay, giữa vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên đoàn tụ nhưng anh M1 không đến làm việc đã chứng tỏ anh M1 có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Tại phiên tòa, chị M vẫn kiên quyết ly hôn với anh M1.
Xét thấy vợ chồng chị M, anh M1 mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M, cho chị M được ly hôn với anh M1 là đúng quy định của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tại phiên tòa.
[3] Về việc nuôi con chung và tiền cấp dưỡng nuôi con: Chị M và anh M1 có 03 con chung tên là: Trần Nhật H, sinh ngày 13/8/2017; Trần Nhật H1, sinh ngày 04/5/2019 và Trần Nhật L, sinh ngày 24/1/2022.
Tại phiên tòa chị M đồng ý theo yêu cầu của anh M1 về việc nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xét thấy giao 02 con chung là Trần Nhật H và Trần Nhật H1 cho anh M1 nuôi dưỡng đến tuổi thành niên và giao con chung Trần Nhật L giao cho chị M nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là đúng quy định pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu Trần Nhật H. Anh M1, chị M không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên anh M1 và chị M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Chị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị Thu M, cho chị Hồ Thị Thu M được ly hôn với anh Trần Văn M1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
- - Giao 02 con chung: Trần Nhật H, sinh ngày 13/8/2017 và Trần Nhật H1, sinh ngày 04/5/2019 cho anh Trần Văn M1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giao dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi.
- - Giao con chung Trần Nhật L, sinh ngày 24/1/2022 cho chị Hồ Thị Thu M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giao dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi.
- - Chị M và anh M1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí sơ thẩm: Chị Hồ Thị Thu M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí giải quyết ly hôn; được khấu trừ hết vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị M đã nộp tại biên lai thu số 0001862 vào ngày 08/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.
[5] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[6] Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thúc Mỹ |
Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
