TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 85/2024/HS-ST Ngày: 11 - 6 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang;
Các hội thẩm nhân dân: + Ông Hoàng Thanh Tâm;
+ Bà Nguyễn Thị Kim Phương.
- Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Quang Trực.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4năm2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS ngày 28tháng 5năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Văn M, (tên gọi khác: không) sinh năm 1991 tại: Ninh Thuận;Nơi cư trú: thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ, sinh năm:không rõvà con bà Nguyễn Thị Ố, sinh năm 1958; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Trần Văn M bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 26/01/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L.Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10/2020, Trần Văn M đến ở tại chùa T, thuộc huyện N, tỉnh Ninh Thuận và quen biết với một người tên N (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể),biết M chưa có giấy phép lái xe hạng A1 nên N hứa giúp M thi sát hạch giấy phép lái xe thì M đồng ý và thực hiện theo hướng dẫn của N. Sau đó, M được N chở đến khu vực ngã năm P, thuộc thành phố P - T (không rõ địa chỉ cụ thể), tại đây N dẫn M đi đến phía sau Công viên có sa hình số 8 và chỉ M chạy xe theo sa hình. Sau đó, N chụp hình căn cước công dân và chân dung của M rồi đi về. Đến khoảng 5 ngày sau, N quay lại chùa gặp M nói đưa cho N 400.000 đồng tiền phí. Biết việc thi bằng lái xe phải tuân theo các quy trình của nhà nước nhưng M vẫn cố
tình đưa tiền để N làm giấy phép lái xe cho mình mà lấy sử dụng. Đến tháng 12/2022, có 01 nhân viên đến giao cho M 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Văn M từ dịch vụ vận chuyển hàng hóa, Mẫn kiểm tra mã QR trên giấy phép lái xe thì đúng với thông tin của M nên tin là giấy phép lái xe thật và sử dụng.
Đến ngày 14/4/2023, M đang lưu thông trên tuyến đường NA1, thuộc xã B, thành phố L thì tổ tuần tra Cảnh sát giao thông Công an thành phố L kiểm tra, phát hiện nghi ngờ giấy phép lái xe của M là giả. Quá trình làm việc M bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 26/01/2024, bị bắt theo quyết định truy nã.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Tại kết luận giám định số 1146/KL-KTHS ngày 11/7/2023, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: 01 giấy phép lái xe, hạng A1, số E, họ tên: Trần Văn M, đề ngày 01/12/2022 là giả.
Vật chứng và xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã tạm giữ: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Văn M, hiện đang tạm giữ để bảo đảm cho việc xử lý vụ án và thi hành án.
Tại bản Cáo trạng số 76/CT-VKS-LK ngày 22/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Trần Văn M1 tội: “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo: Trần Văn M2 tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38Bộ luật Hình sự cùng nhân thân bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo 06 tháng đến 08 tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.
* Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáobiết mình đã vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,bị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã mô tả, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu hồi được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng tháng 10/2020, Trần Văn M đến ở tại chùa T, thuộc huyện N, tỉnh Ninh Thuận và quen biết với một người tên N (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể), biết M chưa có giấy phép lái xe hạng A1 nên N đã làm cho M 01 giấy phép lái xe, hạng A1, số E, họ tên: Trần Văn M, đề ngày 01/12/2022. Biết việc thi bằng lái xe phải tuân theo các quy trình của nhà nước nhưng M vẫn cố tình để N làm giấy phép lái xe cho mình mà lấy sử dụng. Đến ngày 14/4/2023, Tổ tuần tra lực lượng Cảnh sát giao thông Công an thành phố L kiểm tra hành chính, phát hiện giấy phép lái xe của Trần Văn M là giả.
Do đó, hành vi của bị cáo Trần Văn M3 cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan nhà nước, xâm phạm lợi ích nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Nên bị cáo phải chịu mức hình phạt tương ứng với hành vi và hậu quả gây ra.
[4] Về khung hình phạt của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết định khung tăng nặng nên chỉ xét xử bị cáo tại khoản 1 Điểu 341 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểmi, s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Văn M, hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
[8] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với đối tượng tên N (chưa rõ nhân thân, lai lịch) người đã làm giả giấy phép lái xe cho M, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cũng như đề nghị mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 341Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[1]. Tuyên bố bị cáoTrần Văn M4 tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểmi, skhoản 1Điều 51; Điều 38Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trần Văn M5 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2024.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốchội.
Buộcbị cáo Trần Văn M6 nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thu Trang |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức
