|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11-6-2024
V/v tranh chấp ly hôn,
chia tài sản chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Huỳnh Văn Năng
- 2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: không tham gia.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp tài sản chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:117/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 123/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc N, sinh năm: 2005
Địa chỉ: số nhà B, tổ C, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
Chị Nguyễn Thị Trúc N uỷ quyền tranh chấp về chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân cho ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Khóm M, thị trấn M, huyện C, An Giang.
Theo văn bản uỷ quyền về yêu cầu phân chia tài sản ngày 21/5/2024 (có mặt)
-
Bị đơn: Anh Phan Thành T, sinh năm: 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, An Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Phan Thành T có ông Lại Văn G- là luật sư thuộc Công ty L – Đoàn luật sư tỉnh A.
Địa chỉ: số C, B, Phường M, Thành phố L, An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
1
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 26/2/2024, biên bản hòa giải của chị Nguyễn Thị Trúc N và tại phiên toà hôm nay chị Nguyễn Thị Trúc N và người đại diện theo uỷ quyền tranh chấp về chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân có ông Nguyễn Văn V cùng trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trúc N và anh Phan Thành T xây dựng hôn nhân do người mai mối, được cha mẹ hai bên thống nhất, có tổ chức lễ cưới vào ngày 01/11/2023, không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới chị N ở nhà cha mẹ chồng làm dâu và sống hạnh phúc khoảng 1 tháng 30 ngày thì anh T ngủ riêng trên võng, khi ngủ chung giường thì anh Trung tấn gối không âu yếm mặn nồng đầu ấp tay gối như trước làm cho cuộc sống vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và xa cách. Gần 02 tháng cha mẹ chồng có đưa chị N về nhà cha mẹ ruột chị N, khoảng 1 tuần anh T không qua rước, cha mẹ chị N thấy vậy mới đưa chị N trở về nhà cha mẹ chồng khoảng 3 ngày sau đó. Trong thời gian sống chung anh T còn chỉ trích chê khen chị N ngủ ngáy, lười biếng, chị N về nhà chồng chị N vẫn làm tròn bổn phận dâu con nhưng anh T chỉ trích nặng nề xúc phạm đến cha mẹ ruột chị N. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống với anh T. Yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Phan Thành T.
-Về con chung: Không có.
-Về tài sản chung: Trong ngày cưới bên chồng có cho 3 lượng vàng 24k (loại vàng 4 số 9999) gồm: 01 sợi dây chuyền 01 lượng; 03 chiếc lắc (chiếc lắc lớn 01 lượng; 01 chiếc lắc 5 chỉ; 01 chiếc lắc 4 chỉ; 01 đôi bông cưới 01 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999). Sau đó mẹ chồng chị N lấy 01 chiếc lắc 5 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999), mua lại cho chị bộ vòng ximen khoảng 27.000.000 đồng, còn dư lại số tiền mẹ chồng mua chiếc nhẫn vàng 18k cho bà đeo. Hiện chị đang giữ bộ vòng gồm 10 chiếc và 01 chiếc nhẫn cưới. Còn anh T giữ 25 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999). Sau ly hôn chị yêu cầu chia đôi số vàng cưới.
-Về nợ chung: Không có
-Người đại diện theo uỷ quyền của chị Nguyễn Thị Trúc N uỷ quyền tranh chấp về chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân có ông Nguyễn Văn V trình bày: Thống nhất phần trình bày của chị Nguyễn Thị Trúc N.
Tại tờ tự khai, biên bản hòa giải cùng ngày bị đơn anh Phan Thành T trình bày:
-Về hôn nhân: Anh và chị N kết hôn do mai mối và tiến tới hôn nhân, không có đăng ký kết hôn, trong cuộc sống vợ chồng cũng bình thường tuy nhiên lúc ngủ N hay đá chân, cọ quậy làm cho anh khó ngủ nên anh để gối chấn giữa để cho dễ ngủ, ngoài ra giữa vợ chồng không mâu thuẩn gì. Anh không muốn ly hôn, xin đoàn tụ hàn gắn nhưng N kiên quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn.
-Về con chung: Không có.
-Về tài sản: Trong ngày cưới bên gia đình anh có đưa 40.000.000 đồng tiền đồng để cho nhà gái làm đám và 3 lượng vàng 24k (loại vàng 4 số 9999) gồm: 01 sợi dây chuyền 01 lượng; 03 chiếc lắc (chiếc lắc lớn 01 lượng; 01 chiếc lắc 5 chỉ, 01 chiếc lắc 3 chỉ); 01 đôi bông cưới 01 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999), 02 chiếc nhẫn cưới. Chị N đang giữ 01 bộ vòng và 01 chiếc nhẫn cưới, còn anh đang giữ 24 chỉ. Sau ly hôn anh yêu cầu chia đôi 30 chỉ vàng cưới và chị N muốn chia tài sản thì phải xem xét tính luôn số tiền đồng 40.000.000đồng.
-Về nợ chung: Không có
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trúc N và anh Phan Thành T xây dựng hôn nhân do người mai mối được cha mẹ hai bên thống nhất, có tổ chức lễ cưới vào ngày 01/11/2023, không có đăng ký kết hôn. Theo giấy xác nhận số 67 ngày 26/2/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện C, An Giang và số 36/UBND-HT ngày 23/2/2024 của UBND xã B, huyện C, An Giang thì sau khi trích lục hồ sơ đăng ký kết hôn thể hiện không có tên trong hồ sơ đăng ký kết hôn của chị Nguyễn Thị Trúc N và anh Phan Thành T. Từ xác nhận trên cho thấy hôn nhân giữa Nguyễn Thị Trúc N và anh Phan Thành T đã không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó hôn nhân của Nguyễn Thị Trúc N và anh Phan Thành T đã vi phạm tại điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Căn cứ vào điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì hôn nhân của Nguyễn Thị Trúc N và anh Phan Thành T không được công nhận là hôn nhân thực tế, do đó nghĩ nên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Trúc N và anh Phan Thành T là phù hợp.
[3.2]Về con chung: không có
[3.3]Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Trúc N và anh Phan Thành T đều xác nhận trong ngày cưới cha mẹ bên anh T có cho vợ chồng 3 lượng vàng 24k (loại vàng 4 số 9999) gồm: 01 sợi dây chuyền 01 lượng; 03 chiếc lắc (chiếc lắc lớn 01 lượng; 01 chiếc lắc 5 chỉ; 01 chiếc lắc 4 chỉ; 01 đôi bông cưới 01 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999). Sau đó mẹ chồng chị N lấy 01 chiếc lắc 5 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999), mua lại cho chị bộ vòng ximen khoảng 27.000.000 đồng. Hiện chị đang giữ bộ vòng gồm 10 chiếc và 01 chiếc nhẫn cưới. Hiện anh T đang giữ 25 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999). Anh T cũng thừa nhận trong ngày cưới bên gia đình anh có đưa 40.000.000 đồng tiền đồng để cho nhà gái làm đám và 3 lượng vàng 24k (loại vàng 4 số 9999) gồm: 01 sợi dây chuyền 01 lượng; 03 chiếc lắc (chiếc lắc lớn 01 lượng; 01 chiếc lắc 5 chỉ, 01 chiếc lắc 3 chỉ); 01 đôi bông cưới 01 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999), 02 chiếc nhẫn cưới. Chị N đang giữ 01 bộ vòng và 01 chiếc nhẫn cưới, còn anh đang giữ 24 chỉ. Mặc dù chị N và anh T chưa đăng ký kết hôn nhưng theo phong tục tập quán Việt Nam khi làm lễ cưới có sự chứng kiến của hai họ thì giữa nam và nữ được xem như đã là vợ chồng và sính lễ cho trong ngày cưới xem là tài sản chung của vợ chồng. Do đó chị N yêu cầu chia số vàng cưới có cơ sở nên được xem xét chấp nhận. Như vậy số tài sản chung được chia bao gồm: 25 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999) hiện anh T đang giữ và 10 chiếc 10 chiếc vòng ximen giá trị gần 5 chỉ loại vàng 18k hiện do chị N đang giữ. Số tài sản được chia như sau:
Trong số vàng cưới có 01 đôi bông cưới 1 chỉ vàng 24k –loại vàng 4 số 9999 hiện anh T đang giữ thiết nghĩ tượng trưng cho cái duyên của người con gái hội đồng xét xử nghĩ không chia mà để chị N được sở hữu đôi bông cưới.
3
Đối với số vàng còn lại hiện anh T còn giữ với số lượng 24 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999) là số tài sản chung của vợ chồng. Do đó anh T có trách nhiệm giao lại cho chị N sỡ hữu 12 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999). Còn chị N đang giữ 10 chiếc vòng ximen giá trị gần 5 chỉ loại vàng 18k, chị N đồng ý giao lại cho T 5 chiếc vòng ximen giá trị 2,5 chỉ loại vàng18k. Do đó buộc chị N có trách nhiệm giao lại cho anh T 5 chiếc vòng ximen giá trị 2,5 chỉ loại vàng 18k là phù hợp.
[3.4]Về nợ chung: Nguyễn Thị Trúc N trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.5]Về án phí: chị Nguyễn Thị Trúc N và anh Phan Thành T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
-
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của Nguyễn Thị Trúc N. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Nguyễn Thị Trúc N và Phan Thành T.
-
Về con chung: không có.
-
Về tài sản chung:
- -Buộc anh Phan Thành T giao cho chị Nguyễn Thị Trúc N đôi bông cưới số lượng là 01 chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999).
- -Buộc anh Phan Thành T giao cho chị Nguyễn Thị Trúc N số lượng là 12 (mười hai) chỉ vàng 24k (loại vàng 4 số 9999).
- -Buộc chị Nguyễn Thị Trúc N giao cho anh Phan Thành T số lượng là 5 (năm)chiếc vòng ximen với giá trị 2,5 chỉ loại vàng 18k.
-
Về nợ chung:Nguyễn Thị T trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
-
Về án phí: Nguyễn Thị Trúc N phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình và chịu số tiền 5.630.000 đồng án phí chia tài sản chung. Tổng cộng là 5.930.000đồng (năm triệu chín trăm ba mươi ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004193 ngày 26/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Chị N có nghĩa vụ nộp thêm số tiền 3.430.000 đồng (ba triệu bốn trăm ba mươi ngàn đồng).
4
Anh Phan Thành T phải chịu số tiền 5.630.000 đồng (năm triệu sáu trăm ba mươi ngàn đồng) án phí chia tài sản chung trong hôn nhân gia đình.
-
Về kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Trúc N, ông Nguyễn Văn V có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/6/2024). Anh Phan Thành T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
-
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Dung |
5
Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung
- Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của Nguyễn Thị Trúc N. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Nguyễn Thị Trúc Nvà Phan Thành T
