|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/DS-PT
Ngày: 08-5-2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lộc
Các Thẩm phán: Ông Lâm Triệu Hữu
Bà Đặng Thị Ánh Bình
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Khương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Hào – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 80/2023/DS-ST, ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 102/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn:
1.1/ Ông Bạch Sơn D, sinh năm 1970.
1.2/ Bà Ngô Thị P, sinh năm 1971.
Cùng địa chỉ: Tổ D, khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Thị P: Ông Bạch Sơn D, sinh năm 1970.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bạch Sơn D: Ông Trần Hồ N – Luật sư Văn phòng L3 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh V.
2/ Bị đơn: Bà Thạch Thị Sa C, sinh năm 1963. Địa chỉ: Tổ D, khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thạch Thị Sa C: Ông Nguyễn Đoàn Bá D1 – Luật sư Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh V.
3/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1/ Anh S, sinh năm 1981 (chết ngày 15/11/2023, không có vợ con)
3.2/ Anh Sơn S, sinh năm 1983.
3.3/ Anh Sơn A, sinh năm 1985.
3.4/ Chị Sơn Thị Ly K, sinh năm 1988.
3.5/ Chị Sơn Thị Thu H, sinh năm 1992.
Cùng địa chỉ: Tổ D, khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
6/ Bà Bạch Thị Kim V, sinh năm 1947.
Địa chỉ: Khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Uỷ quyền cho anh Bạch Thanh S1, sinh năm 1977
4/ Người làm chứng:
4.1/ Ông Thạch L, sinh năm 1940.
Địa chỉ: Khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
4.2/ Ông Thạch Thanh T, sinh năm 1959.
Địa chỉ: Khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long
Người kháng cáo: Bà Thạch Thị Sa C - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 07 tháng 8 năm 2020 và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Bạch Sơn D trình bày:
Vợ chồng ông đứng tên quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 98, tờ bản đồ số 36, diện tích 582,8m² tọa lạc tại tổ D, khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Nguồn gốc phần đất này do mẹ ông là Bạch Thị Kim V đứng tên thuộc thửa 675, tờ bản đồ số 4, diện tích 660m² sau đó được cấp đổi thành thửa 368, tờ bản đồ số 5, diện tích 570m² do bà V đứng tên. Bà V tặng cho ông vào năm 2010 nhưng đến năm 2013 thì ông mới được đứng tên. Trên thửa đất này ông có cất 01 căn nhà cấp 4, còn phía đất trống ông trồng 80 gốc cam được khoảng 03 năm, ông thu hoạch được 02 lần thì phía gia đình bà Sa C vào chặt cam của ông.
Ngày 02/11/2019 chặt 19 cây, mé nhánh 32 cây, ngày 30/8/2020 chặt 61 cây cam. Tổng số là 80 cây cam.
Vào ngày 02/11/2019 bà Thạch Thị Sa C tự ý kéo lưới B40 chiếm phần đất với diện tích khoảng 190m² (chiều ngang khoảng 5,5m, chiều dài khoảng 35m, ngang phía sau 4,6m) thuộc một phần thửa đất số 98 của ông.
Ông yêu cầu bà Thạch Thị Sa C tháo dỡ hàng rào lưới B40 để trả lại cho ông phần đất diện tích thực tế theo kết quả đo đạc là 166,6m² thuộc thửa 98-1 mà bà Sa C đã lấn chiếm.
Đối với 80 gốc cam mà bà Sa C đã chặt, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn phản tố, B khai ngày 18/11/2020 và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Thạch Thị Sa C trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây là của ông Sơn H1 (cha chồng của bà Sa C) cho vợ chồng bà Sa C quản lý sử dụng. Phần đất của ông Sơn H1 sát ranh với bà Bạch Kim V tại một phần thửa 368, năm 1980 bà V kê khai chương trình đất thì kê khai luôn diện tích ngang ngoài mặt lộ là 5,5m, chạy dài 35m, ngang đầu trong là 4,6m, tổng diện tích khoảng 190m² thuộc một phần của thửa đất số 368 nay là thửa đất số 98. Tuy bà V kê khai quyền sử dụng đất nhưng gia đình bà canh tác và sử dụng từ năm 1980 đến năm 2004, do gia đình gặp khó khăn nên bà và các con lên thành phố Hồ Chí Minh làm thuê sinh sống, chỉ có một mình ông Sơn L1 ở nhà trông coi. Đến năm 2014 bà và các con trở về chuẩn bị cất nhà thì phát hiện bà V đứng tên quyền sử dụng đất, bà có yêu cầu chính quyền xã giải quyết nhưng không thành.
Bà V cho rằng đất chồng đất và cho rằng đã mua đất của cha chồng bà nên bà không tiếp tục kiện bà V mà chỉ yêu cầu bà V ký trả lại đất nhưng bà V không gặp bà thương lượng mà chuyển quyền sử dụng đất cho ông Bạch Sơn D.
Năm 2015 ông D trồng cam trên phần đất của vợ chồng bà, bà có ra ngăn cản nhiều lần nhưng ông D vẫn trồng cam. Gia đình bà có đến gặp chính quyền địa phương yêu cầu giải quyết nhưng vẫn không được giải quyết nên bà đã chặt số cam của ông Dương t nhưng trước khi chặt cam gia đình bà có đến yêu cầu ông D dọn phá cam trả lại đất nhưng phía ông D vẫn không chịu phá cam nên bà mới chặt cam. Số lượng cây cam bà chặt là bao nhiêu thì không nhớ.
Lưới B40 là của bà giăng từ đất của bà giáp với cổng của ông D. Phía trước giáp lộ chiều dài lưới là 5,5m, phía sau giáp đất bà T1 là 4,6m. Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông D. Không đồng ý tháo dỡ hàng rào trả lại đất cho ông D vì phần đất đó là của gia đình bà.
Bà yêu cầu công nhận cho bà được quyền sử dụng phần đất có chiều ngang giáp mặt lộ là 5,5m, chiều dài 35m, ngang phía trong là 4,6m thuộc một phần của thửa đất 368 nay là thửa đất 98, tờ bản đồ số 36, diện tích đất tranh chấp đo thực tế là 166,6m² thuộc chiết thửa 98-1.
Tại Bản khai ý kiến ngày 06 tháng 4 năm 2021 và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là S, Sơn S, Sơn Thị Kha L2 trình bày:
Chúng tôi thống nhất với yêu cầu phản tố của mẹ ruột là bà Thạch Thị Sa C, yêu cầu công nhận cho gia đình tôi một phần của thửa đất số 368 nay là thửa số
98 với diện tích ngang mặt lộ là 5,5m, dài 35m, ngang đầu trong là 4,6m, diện tích tranh chấp đo thực tế là 166,6m². Sơn Sát và Sơn Thị Kha L2 xin vắng mặt trong các buổi hòa giải và xét xử của Tòa án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Bạch Kim V có đơn xin vắng mặt tại phiên toà do lớn tuổi và bị bệnh tim.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 169, 179 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bạch Sơn D, Ngô Thị P.
Buộc bà Thạch Thị Sa C phải tháo dỡ, di dời hàng rào trụ đá lưới B40 (dài 11,3m, cao 1,5m) và 01 bếp tạm kết cấu khung cột tre, mái tol, diện tích 1,7m x 3,2m (bên trong có 01 bếp gạch xi măng, kích thước 0,9m x 1,4m) để trả lại cho ông Bạch Sơn D, bà Ngô Thị P phần đất diện tích 166,6m² thuộc chiết thửa 98-1, tờ bản đồ số 36, toạ lạc tại khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. (Kèm theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 24/10/2022).
Ông Bạch Sơn D bà Ngô Thị P có nghĩa vụ trả cho bà Sa C giá trị của 03 bụi mía (55 cây), 18 chuối, 01 cây dừa, 01 cây vú sữa và 01 cây thanh trà với tổng số tiền là 3.881.000đ. Ông D, bà P được quyền sở hữu số cây trồng trên.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị Sa C về yêu cầu công nhận cho bà được quyền sử dụng phần đất có diện tích là 166,6m² thuộc chiết thửa số 98-1, tờ bản đồ số 36, toạ lạc tại khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, về chi phí tố tụng, về nghĩa vụ thi hành án và về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/12/2023 bà Thạch Thị Sa C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử ngày 23/11/2023. Đồng thời chấp nhận yêu cầu phản tố của bà, bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà Thạch Thị Sa C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ông Bạch Sơn D và bà Ngô Thị P có ông Bạch Sơn D làm đại diện không đồng ý kháng cáo của bà Thạch Thị Sa C.
Anh Sơn S, anh Sơn A thống nhất với ý kiến của bà Thạch Thị Sa C.
Nhân chứng ông Thạch L và ông Thạch Thanh T trình bày: Phần đất hiện đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông Sơn H1 là cha chồng của bà Thạch Thị Sa C. Ông Thạch L còn trình bày khi ông S2 Hiên bán đất cho bà Bạch Thị Kim V có nhờ ông đo đất, nhưng phần đất ông đo không phải tại vị trí đất tranh chấp. Việc làm giấy tờ mua bán thì ông không biết.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thạch Thị Sa C phát biểu ý kiến: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của ông Sơn H1 là cha chồng của bà Thạch Thị Sa C, bà Thạch Thị Sa C và gia đình canh tác từ năm 1980 đến nay không có tranh chấp. Ranh đất là bờ dừa do bà V trồng hiện nay còn 01 cây. Mặt khác nhân chứng ông Thạch L và ông Thạch Thanh T đều xác định đất tranh chấp cũng có nguồn gốc là của ông Sơn H1 và ranh đất giữa đất ông Sơn H1 và đất bà V là bờ dừa do bà V trồng, hiện nay còn 01 cây. Nhân chứng Thạch L xác định khi ông S2 Hiên bán đất cho bà V có nhờ ông đo đất. Ông L xác định phần đất ông H1 bán cho bà V không phải tại vị trí đất tranh chấp hiện nay. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bà Thạch Thị Sa C. Công nhận cho bà Thạch Thị Sa C phần đất tranh chấp diện tích 166,6m² thuộc chiết thửa số 98-1, tờ bản đồ số 36, toạ lạc tại khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Bạch Sơn D phát biểu ý kiến: Qua các tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định phần đất tranh chấp có diện tích 166,6m² thuộc chiết thửa số 98-1, tờ bản đồ số 36, toạ lạc tại khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long là của anh Bạch Sơn D. Phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của bà Bạch Thị Kim V kê khai đăng ký đất đai từ năm 1980, sau đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2010 bà V tặng cho anh Bạch Sơn D và chị Ngô Thị P. Anh D, chị P làm thủ tục cấp đổi quyền sử dụng đất, đến năm 2013 thì anh Bạch Sơn D và chị Ngô Thị P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bạch Sơn D và chị Ngô Thị P1, không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Thạch Thị Sa C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Thạch Thị Sa C là chưa đủ căn cứ để chấp nhận. Tại cấp phúc thẩm bà Thạch Thị Sa C có đơn xin miễn tiền án phí do là người cao tuổi. Xét đơn xin miễn án phí của bà Thạch Thị Sa C là phù hợp theo quy định của pháp luật, nên xét miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm cho bà Thạch Thị Sa C. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Thạch Thị Sa C, sửa bản án sơ thẩm về án phí. Miễn tiền án phí sơ thẩm và phúc thẩm cho bà Thạch Thị Sa C do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án ngày 23/11/2023. Ngày 04/12/2023 bà Thạch Thị Sa C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Xét đơn kháng cáo của bà Thạch Thị Sa C còn trong hạn luật định, bà Thạch Thị Sa C đã nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ, đúng quy định, nên kháng cáo hợp lệ. Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Sơn Thị Ly K và chị Sơn Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Ly K và chị Thu H là phù hợp theo quy định tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Thạch Thị Sa C, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Phần đất tranh chấp có diện tích thực đo là 166,6m² thuộc chiết thửa 98-1, tờ bản đồ 36, toạ lạc tại khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long do ông Bạch Sơn D, bà Ngô Thị P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phần đất này có nguồn gốc do bà V mua của ông Sơn H1 (cha chồng của bà Sa C), sau đó bà V được đứng tên quyền sử dụng đất. Năm 2010 bà Bạch Thị Kim V tặng cho Bạch Sơn D và Ngô Thị P. Năm 2013 ông Bạch Sơn D và bà Ngô Thị P được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại công văn số 1069A/CLN-TTCNTTTNMT ngày 28/7/2016 của Trung tâm công nghệ thông tin Tài nguyên Môi trường tỉnh V xác nhận: Theo tư liệu đo đạc thực hiện Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng chính phủ ghi nhận: Phần đất thuộc thửa số 675, tờ bản đồ số 4, diện tích 660m², loại đất thổ vườn do bà Bạch Thị Kim V kê khai trong sổ mục kê ruộng đất và đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất; Theo tư liệu đo đạc bản đồ giải thửa năm 1991 (chương trình đất) ghi nhận: Thửa đất số 368, tờ bản đồ số 5, diện tích 570m² do Bạch Thị Kim V đăng ký trong sổ bộ địa chính.
Ngoài ra, tại công văn số 3908/UBND-NC ngày 30/11/2021 của Ủy ban nhân dân thị xã B: Theo tư liệu địa chính hiện tại, thửa đất số 98, tờ bản đồ số 36, diện tích 582,8m² do ông D, bà P có đơn đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận vào ngày 06/5/2010 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 28/02/2013. Việc cấp giấy chứng nhận cho ông D, bà P là đúng theo quy định của pháp luật.
Từ đó có đủ cơ sở để xác định phần đất tranh chấp thuộc chiết thửa 98-1, diện tích thực đo là 166,6m² thuộc quyền sử dụng của ông D, bà P. Nên án sơ thẩm buộc bà Thạch Thị Sa C tháo dở di dời hàng rào lưới B40 và vật kiến trúc khác ra khỏi phần đất tranh chấp để trả ông D và bà P phần đất tranh chấp là có căn cứ.
[2.2] Xét việc bà Thạch Thị Sa C yêu cầu công nhận cho bà Thạch Thị Sa C phần đất tranh chấp diện tích 166,6m² thuộc tách thửa 98-1, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà Thạch Thị Sa C xác định phần đất tranh chấp có diện tích 166,6m² tranh chấp là của ông Sơn H1 là cha chồng bà Sa C cho bà và ông Sơn L1 trước năm 1980, gia đình bà sử dụng từ năm 1980 đến năm 2004 thì gia đình bà khó khăn về kinh tế nên đi lên Thành phố Hồ Chí Minh làm thuê, chỉ có ông Sơn L1 ở nhà quản lý. Đến năm 2014 bà và các con bà về thì phát hiện bà Bạch Thị Kim V đứng tên phần đất tranh chấp, bà có khiếu nại đến chính quyền địa phương nhưng không được chính quyền địa phương giải quyết. Xét yêu cầu của bà Thạch Thị Sa C là không có căn cứ vì qua các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án thì phần đất tranh chấp 166,6m² qua quá trình biến động đất đai ông Sơn H1 và ông Sơn L1 (chồng bà Sa C) không có kê khai đăng ký đất đai qua các thời kỳ. Ngoài lời trình bày của bà Sa C ra, bà Sa C không có tài liệu, chứng cứ chứng minh phần đất tranh chấp là của ông Sơn H1 cho vợ chồng bà, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Sa C.
Từ nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy án sơ thẩm xử buộc bà Sa C trả ông Bạch Sơn D và bà Ngô Thị P phần đất 166,6m² là có căn cứ. Do đó không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Thạch Thị Sa C.
[2.3] Xét lời trình bày của các nhân chứng tại phiên tòa là chưa phù hợp và chưa đủ căn cứ, nên không được chấp nhận.
[3] Tại cấp phúc thẩm bà Thạch Thị Sa C có đơn xin miễn tiền án phí do là người cao tuổi. Xét đơn xin miễn tiền án phí của bà Thạch Thị Sa C là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó Hội đồng xét xử xét miễn án phí cho bà Thạch Thị Sa C. Nên sửa bản án sơ thẩm về án phí.
[4] Xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ.
[5] Xét đề nghị của vị luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Thạch Thị Sa C là chưa đủ căn cứ.
[6] Xét đề nghị của vị luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Bạch Sơn D là có căn cứ.
[7] Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho bà Thạch Thị Sa C do là người cao tuổi.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Thạch Thị Sa C. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long về án phí.
Căn cứ vào Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 100, 166, 169, 179 Luật Đất đai năm 2013;
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bạch Sơn D, Ngô Thị P.
Buộc bà Thạch Thị Sa C phải tháo dỡ, di dời hàng rào trụ đá lưới B40 (dài 11,3m, cao 1,5m) và 01 bếp tạm kết cấu khung cột tre, mái tol, diện tích 1,7m x 3,2m (bên trong có 01 bếp gạch xi măng, kích thước 0,9m x 1,4m) để trả lại cho ông Bạch Sơn D, bà Ngô Thị P phần đất diện tích 166,6m² thuộc chiết thửa 98-1, tờ bản đồ số 36, toạ lạc tại khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. (Kèm theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 24/10/2022)
Ông Bạch Sơn D bà Ngô Thị P có nghĩa vụ trả cho bà Sa C giá trị của 03 bụi mía (55 cây), 18 cây chuối, 01 cây dừa, 01 cây vú sữa và 01 cây thanh trà với tổng số tiền là 3.881.000đ (Ba triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn đồng). Ông D, bà P được quyền sở hữu số cây trồng trên.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị Sa C về yêu cầu công nhận cho bà được quyền sử dụng phần đất có diện tích là 166,6m² thuộc chiết thửa số 98-1, tờ bản đồ số 36, toạ lạc tại khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Về án phí:
Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho bà Thạch Thị Sa C do là người cao tuổi. Hoàn trả bà Thạch Thị Sa C 3.705.000đ (ba triệu bảy trăm lẻ năm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0010678 ngày 22/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0012331 ngày 07/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Buộc ông D, bà P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), ông D bà P được khấu trừ vào biên lai thu tạm ứng án phí số 0010452 ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh. Ông D, bà P được nhận lại 3.405.000đ (ba triệu bốn trăm lẻ năm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi suất chậm thi
hành án, tương ứng với thời gian chưa hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Lộc |
Bản án số 85/2024/DS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 85/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Dương tranh chấp QSDĐ với bà Sa Cha
