|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 85/2024/HS-ST Ngày 06-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Vượng.
- Ông Nguyễn Văn Môn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 04 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian và địa điểm mở phiên toà số 412/TB-TA ngày 15/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị N, sinh ngày 09/9/1995 tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở hiện tại: Khu F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Tiến Đ, sinh năm 1970 và bà Hồ Thị T, sinh năm 1972; Gia đình có 3 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Bị cáo có chồng là Đinh Văn H, sinh năm 1993 và có 2 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 7/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trương Đức A, sinh năm 1994 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Đặng Quang D, sinh năm 1995 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Hoàng Quốc G, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
- Chị Trần Thị Đ1, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.
Địa chỉ: Số nhà E, đường Q, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Quốc P, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
- Anh Đồng Văn C, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người chứng kiến:
- Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2022, Lê Thị N, sinh năm 1995, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên làm nhân viên phục vụ tại quán hát trên địa bàn thành phố B. Đến khoảng đầu năm 2023, N đến làm nhân viên quán K ở khu F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Theo N khai trong thời gian ở thành phố B có quen một người thanh niên tự giới thiệu tên là V có số điện thoại 0585.202.xxx. Nhung lưu số điện thoại này trong danh bạ là A1.
Lê Thị N có quen biết Trương Đức A, sinh năm 1994 và Đặng Quang D, sinh năm 1995 đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Đức A và D cùng thuê và sinh sống tại căn hộ F, tòa S, khu đô thị V, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Nhung lưu số điện thoại 0899.458.xxx của Trương Đức A trong danh bạ điện thoại là “A Đức NĐ 2”.
Buổi sáng ngày 04/8/2023, Lê Thị N nhận được cuộc gọi điện thoại của V qua ứng dụng Telergam hỏi mua 100 gam ma túy Ketamine và 20 viên ma túy tổng hợp. N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max lắp sim số 0971.938.463 gọi cho Trương Đức A qua ứng dụng Telegram hỏi mua số ma túy trên thì Đức A thông báo giá bán là 56.000.000 đồng và yêu cầu đặt cọc trước 3.000.000 đồng. Sau đó, N gọi điện thoại cho V thông báo giá bán số ma túy trên là 58.800.000 đồng và yêu cầu đặt cọc tiền đồng thời gửi cho V số tài khoản 0971938463 của N mở tại ngân hàng M thì V đồng ý mua và hẹ sẽ chuyển tiền.
Ngày hôm sau, N đi xe khách từ tỉnh Cao Bằng đến gặp anh Đồng Văn C, sinh năm 1987 là người quen ở căn hộ A chung cư B, phường D, thành phố B và chơi tại đây. Đến chiều ngày 06/8/2023, N thuê xe taxi đến thuê phòng 201 nhà nghỉ P1, đường N, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để chờ khi nào Trương Đức A liên hệ thì đi gặp để mua ma tuý.
Đối với Trương Đức A khai sau khi N gọi điện thoại liên hệ hỏi mua ma tuý thì Đức A đi đến khu vực ven đường thuộc khu đô thị V gặp và mua của một người lái xe ôm tên là H1 100 gam ma tuý Ketamine và 20 viên ma tuý loại kẹo với giá 45.000.000 đồng. Trong đó 20 viên ma tuý loại kẹo được để trong một túi nilon một đầu có rãnh khóa bằng nhựa có viền màu xanh và 01 túi nilon màu trắng đựng ma tuý Ketamine bên ngoài được quấn dán bằng băng dính màu trắng. Đức A cầm số ma tuý này cất giấu tại phòng ở để chờ bán cho N.
Khoảng 08 giờ ngày 07/8/2023, chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991, trú tại số nhà E, đường Q, phường T, thành phố B đi ra chợ T5 thì gặp một người đàn ông không quen biết. Người đàn ông này đưa cho chị T1 3.800.000 đồng tiền mặt và nhờ chuyển khoản số tiền này đến số tài khoản 0971938463 ngân hàng MB của Lê Thị N. Chị T1 đồng ý và sử dụng số tài khoản 9080185686888 ngân hàng M chuyển 3.800.000 đồng đến tài khoản của N. Sau khi chuyển tiền xong thì V thông báo cho N biết. Nhung chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng đến số tài khoản 51310000892454 ngân hàng B mang tên Trần Thị Đ1, sinh năm 1966, trú tại xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An do Trương Đức A quản lý và sử dụng đặt mua ma tuý. Sau khi nhận được số tiền trên, Trương Đức A gọi điện thoại qua T3 thông báo cho N biết đã có ma tuý và hẹn đến khu đô thị V để nhận. N thuê anh Hoàng Quốc G, sinh năm 1987, trú tại thôn M, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh lái xe taxi BKS 99A- 572.69 đi từ nhà nghỉ P1, thành phố B đến khu đô thị V, huyện G, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi, N xuống xe và bảo anh G chờ. Sau đó, N gọi điện cho Đức A biết đã đến nơi thì được Đức A chỉ dẫn đi đến khu vực gần bể bơi K1 để chờ nhận ma túy. Sau đó, Đức A lấy túi nilon đựng 20 viên ma túy kẹo và ma túy Ketamine đi ra phòng khách và gọi Đặng Quang D từ phòng ngủ đi ra bảo đi xuống đưa cho N đang chờ ở khu vực bể bơi. D nhìn thấy trong túi nilon có nhiều vào trong túi quần đang mặc rồi đi xuống khu vực bể bơi khu đô thị V gặp N đang đứng chờ. D đưa cho N túi ma túy rồi quay trở lại phòng thông báo cho Đức A biết đã giao ma túy cho N. Sau đó, N đi ra bảo anh G đi taxi chở quay về nhà nghỉ P1 ở thành phố B.
Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, N gọi điện thoại cho V thông báo đã có ma tuý thì V hẹn gặp nhau để giao dịch ở khu vực cổng số 1 công viên H, thành phố B. N điện thoại cho anh G đi xe taxi đến nhà nghỉ P1 đón đưa đến thành phố B. N đã để túi nlon đựng ma tuý ở ghế sau cạnh vị trí ngồi. Khi đến điểm hẹn, N gọi điện cho V thông báo đang ngồi trong xe taxi chờ.
Đối với người tên là V thuê anh Nguyễn Quốc P, sinh năm 1983, trú tại ngõ A, đường H, phường H, thành phố B lái xe taxi hãng M1 BKS 98A- 12326 đưa đến điểm hẹn. Khi đến địa điểm gặp nhau, V đi bộ đến mở cửa xe taxi ngồi bên cạnh N rồi bảo anh P đi ra ngoài chờ. V nói với N chờ một lúc để ra ngoài nghe điện thoại rồi mở cửa xe đi ra ngoài. Khi N đang ngồi trên xe taxi cùng số ma tuý chưa kịp giao cho V thì tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh B kiểm tra bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa có viền màu xanh, bên trong chứa:
- 20 (hai mươi) viên nén màu hồng hình trái tim (trong đó có một viên nén bị vỡ làm đôi);
- 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa có viền màu xanh, bên ngoài có dính băng dính màu trắng, bên trong đựng 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.
(Số vật chứng nêu trên được được thu tại mặt ghế sau của xe ô tô BKS 98A- 132.26 cạnh vị trí N ngồi được dán kín niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”).
- 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Lê Thị N.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số seri: F2MNT84FG5QY, lắp sim 0334.646.331.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, số seri: FK1X86VEKPHF, lắp sim 0971.938.463.
- 01 túi nilon màu đỏ của Lê Thị N.
- 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Quốc P.
- 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô.
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand I10 BKS 98A-132.26.
Ngoài ra, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh B còn thu giữ 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda City RS màu đỏ BKS 99A- 572.69 và 01 giấy kiểm định, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Hoàng Quốc G. Tiến hành kiểm tra xe ô tô không phát hiện đồ vật, tài liệu liên quan phạm tội.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị N tại quán K ở khu F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng nhưng không tạm giữ đồ vật, tài sản gì.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã trưng cầu giám định chất ma tuý và dấu vết đường vân trên số vật chứng nghi ma túy thu giữ của Lê Thị N khi bắt quả tang đã được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT”.
Kết luận giám định số 1477/KL – KTHS ngày 11/8/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
Trong 01(một) phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:
- 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu xanh:
+ 20 (hai mươi) viên nén màu hồng hình trái tim (trong đó có một viên nén bị vỡ làm đôi) đều là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 6,024 gam.
+ Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh (được để trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh, bên ngoài có dính băng dính màu trắng) là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 71,064 gam.
Kết luận giám định số 1590/KL – KTHS ngày 28/8/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
Trên các mẫu vật gửi giám định phát hiện thấy 01 (một) dấu vết đường vân, mờ nhoè, không thể hiện rõ đặc điểm, không đủ yếu tố giám định.
Ngày 03/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B cho Lê Thị N nhận dạng ảnh Trương Đức A và Đặng Quang D. Kết quả, N nhận đúng ảnh và xác định N đã liên hệ với Đức A để mua ma tuý còn D trực tiếp bán ma tuý cho N vào ngày 07/8/2023.
Cơ quan điều tra cho Đặng Quang D, Trương Đức A quan sát ảnh Lê Thị N và ảnh túi nilon đựng ma tuý đã thu giữ. Kết quả D và Đức A đều nhận ra ảnh N và ảnh túi nilon đựng ma tuý và xác định đã bán ma tuý cho N vào ngày 07/8/2023.
Ngày 07/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max lắp sim 0971.938.463 và điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim 0334.646.xxx thu giữ của Lê Thị N phát hiện có các cuộc gọi, tin nhắn, chuyển tiền liên quan đến giao dịch mua bán ma tuý.
Kết quả sao kê số tài khoản 9080185686888 ngân hàng MB của chị Nguyễn Thị T1 thấy ngày 07/8/2023 có chuyển số tiền 3.800.000 đồng đến số tài khoản 0971938463 ngân hàng M2 của Lê Thị N.
Kết quả sao kê số tài khoản 51310000892454 ngân hàng B mang tên Trần Thị Đ1, sinh năm 1966, trú tại xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An do Trương Đức A quản lý và sử dụng thấy hồi 09 giờ 24 phút ngày 07/8/2023 có nhận số tiền 3.000.000 đồng từ tài khoản 0971938463 ngân hàng MB của Lê Thị N chuyển đến.
Kết quả sao kê số tài khoản ngân hàng của Lê Thị N thấy ngày 07/8/2023 có nhận 3.800.000 đồng do chị Nguyễn Thị T1 chuyển đến sau đó N chuyển khoản 3.000.000 đồng đến số tài khoản 51310000892454 ngân hàng B mang tên Trần Thị Đ1.
Trong quá trình điều tra, các bị can Lê Thị N, Trương Đức A và Đặng Quang D khai nhận thành khẩn diễn biến hành vi mua bán trái phép chất ma túy nêu trên. N khai đây là lần đầu mua bán ma tuý thì bị bắt.
Đối với Trương Đức A và Đặng Quang D ngoài hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Thị N nêu trên thì ngày 19/10/2023 còn bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An khởi tố, tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự sau đó vụ án được chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N điều tra theo thẩm quyền. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra quyết định tách vụ án hình sự số 691 ngày 02/3/2023 đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Trương Đức A, Đặng Quang D trong vụ án nêu trên. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ra Quyết định vụ án số 12 ngày 21/3/2024 đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N để tiến hành nhập vụ án và điều tra, xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.
[9] Đối với anh Hoàng Quốc G lái xe taxi BKS 99A- 572.69 chở N nhưng không biết việc N mua bán trái phép chất ma tuý; anh Nguyễn Quốc P lái xe taxi BKS 98A- 12326 chở V đến gặp N nhưng không biết mục đích để giao dịch mua ma túy. Chị Nguyễn Thị T1 được V nhờ chuyển tiền đến tài khoản của Lê Thị N nhưng không biết mục đích đặt mua ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý là đảm bảo quy định của pháp luật.
[10] Đối với Trần Thị Đ1, sinh năm 1966, trú tại xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An khai không sử dụng tài khoản 51310000892454 mở tại ngân hàng B và cũng không biết người sử dụng tài khoản này nên không có cơ sở xác định bà Đ1 liên quan đến việc mua bán ma tuý.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[12] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm p khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136; khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Lê Thị N 11 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 7/8/2023. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 túi nilon màu đỏ.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số seri: F2MNT84FG5QY, lắp sim 0334.646.331 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, số seri: FK1X86VEKPHF, lắp sim 0971.938.463.
- Trả lại bị cáo 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Lê Thị N.
- Buộc bị cáo nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị N - Mua bán ma túy
