Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 85/2025/HSST

Ngày: 20/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Xuân Thiều

Bà Dương Thị Kim Nhiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Huế - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

- Huỳnh Tuấn A, sinh ngày 08/10/1983, tại Bình Dương.

Nơi cư trú: Tổ I, khu phố H, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Giới tính: Nam; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1962 và bà Trương Thị Á, sinh năm 1962; Vợ: Trần Thị Phương U, sinh năm 1987; Con: Có 02 người con, cùng sinh năm 2016; Tiền án – Tiền sự: Không.

Ngày 02/12/2024, bị khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị bắt tạm giam từ ngày 09/12/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại:

+ Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Ấp A, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt)

+ Ông Lê Minh T, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Khu phố D, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1962;

Nơi cư trú: Tổ I, khu phố H, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Tuấn A, sinh năm 1983, nơi thường trú: Khu phố H, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước và ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1966, nơi thường trú: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước có mối quan hệ quen biết.

Khoảng cuối tháng 11/2021, ông B1 nói cho Tuấn A biết việc đang có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối từ đất nông nghiệp sang đất ở đối với 400m2 đất của thửa đất số 409, tờ bản đồ 26, địa chỉ: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước. Lúc này, Tuấn A nói sẽ hỗ trợ ông B1 làm hồ sơ pháp lý để chuyển đổi mục đích sử dụng đất thì ông B1 đồng ý. Ông B1 đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS543131, số vào sổ cấp GCN: CS08119 của thửa đất số 409, tờ bản đồ số 26, diện tích 2110,6m2, địa chỉ: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/08/2019, đứng tên chủ sử dụng đất là ông B1 và vợ của ông B1 là bà Đỗ Thị H, sinh năm 1972 cùng thường trú tại: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước cho Tuấn A. Khi giao nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, Tuấn A viết vào bản photo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS543131 nội dung “Tháng 11/2021, sổ đỏ gốc hiện tôi đang giữ để mua thổ cư cho ông B1", rồi ký, ghi rõ họ tên. Sau khi nhận những giấy tờ mà ông B1 đưa, Tuấn A đến bộ phận tiếp nhận hồ sơ lĩnh vực đất đai của Ủy ban nhân dân xã N và Ủy ban nhân dân huyện C (nay là Ủy ban nhân dân thị xã C) hỏi về việc đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở nhưng được trả lời là chưa có chỉ tiêu cấp đất ở nên Tuấn A không làm hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho ông B1.

Khoảng 20 ngày sau, do không có đủ tiền để mua đất nên Tuấn A nảy sinh ý định nói dối rồi chiếm đoạt tiền đóng thuế của ông B1 nhằm sử dụng để mua đất cho cá nhân. Tuấn A gọi điện thoại cho ông B1 rồi nói dối đã làm xong hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho ông B1 rồi yêu cầu ông B1 đưa cho Tuấn A số tiền 84.000.000 đồng (T1 mươi bốn triệu đồng) để đóng thuế mua đất ở. Tin tưởng nên ông B1 đưa cho Tuấn A số tiền 84.000.000 đồng (T1 mươi bốn triệu đồng). Khi giao nhận tiền, Tuấn A tiếp tục viết vào bản photo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS543131 nội dung “Tháng 12/2021, tôi có lấy số tiền 84.000.000 đồng (T1 mươi bốn triệu đồng) đi đóng thuế thổ cư cho ông Bl”, rồi ký, ghi rõ họ tên. Sau khi lấy được tiền, Tuấn A sử dụng số tiền trên đưa bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967, nơi thường trú: Khu phố T, phường H, thị xã C, Bình Phước để đặt cọc tiền mua thửa đất có kích thước (5x30)m, địa chỉ: Tổ I, khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước do ông Cao Hữu B2, sinh năm 1967, nơi thường trú: Tổ 1, khu phố H, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước làm chủ sở hữu nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá gần 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Tuy nhiên, ông Cao Hữu B2 chỉ đồng ý bán thửa đất trên khi đã đủ tiền chứ không làm hợp đồng đặt cọc nên bà L không tiến hành đặt cọc mà đợi Tuấn A đưa đủ tiền để mua thửa đất này.

Đến tháng 10/2022, do cần tiền để đưa bà L trả tiền mua đất, Tuấn A đến gặp anh Lê Minh T, sinh năm 1978, nơi thường trú: Khu phố D, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước tại nhà của anh T, địa chỉ: Khu phố D, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước để mượn số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Anh T đồng ý cho Tuấn A mượn tiền với điều kiện có tài sản thế chấp để làm tin nên Tuấn A đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS543131 cho anh T để thế chấp. Thấy thông tin của Tuấn A và thông tin chủ sở hữu của thửa đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS543131 không phải cùng một người nên anh T hỏi thì Tuấn A nói dối đã mua thửa đất trên của ông B2 và đang làm thủ tục sang tên. Đồng thời, Tuấn A đưa Căn cước công dân (bản photo) của ông Nguyễn Văn B1 cho anh T xem để tăng thêm lòng tin. Do anh T và Tuấn A có quan hệ cộng tác kinh doanh nhiều năm nên anh T tin tưởng, đồng ý cho Tuấn A mượn số tiền 100.000.000 đồng(một trăm triệu đồng) với lãi suất 1.000 đồng/1.000.000 đồng (03%/tháng) và giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS543131 để làm tin. Sau khi nhận tiền, Tuấn A tự viết một giấy mượn tiền dân sự và đưa cho anh B1 giữ (thời gian sau anh B1 đã làm thất lạc giấy mượn tiền này). Sau đó, Tuấn A sử dụng số tiền trên để đưa cho bà L để bồi thêm tiền mua đất. Tuy nhiên, sau khi mượn tiền, đến ngày trả tiền lãi hàng tháng do Tuấn A không thực hiện theo thỏa thuận nên anh T gọi hỏi thì Tuấn A thừa nhận về việc bản thân đã nói dối để chiếm đoạt số tiền trên. Đồng thời, Tuấn A hẹn anh T cho thêm thời gian để trả lại số tiền 100.000.000 đồng đã mượn của anh T thì anh T đồng ý.

Đến tháng 11/2022, thấy thời gian đã lâu nhưng Tuấn A chưa hoàn tất hồ sơ pháp lý mua đất ở nên ông B1 liên lạc hỏi thì Tuấn A nói dối đang làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho ông B1. Đến tháng 01/2023, ông B1 tiếp tục hỏi và yêu cầu Tuấn A đưa lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS543131 cho ông B1 thì Tuấn A nói với ông B1 việc thửa đất của ông Bằng K mua được đất ở, số tiền 84.000.000 đồng mà ông B1 đưa thì Tuấn A đã sử dụng để đặt cọc mua đất. Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS543131 của ông B1 thì Tuấn A đã cầm cố cho người khác để vay tiền. Ông B1 yêu cầu Tuấn A trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS543131 và số tiền 84.000.000 đồng nhưng Tuấn A không trả. Ngày 25/9/2024, ông B1 đến Công an xã N tố cáo Huỳnh Tuấn A có hành vi "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Ngày 02/10/2024, Công an xã N chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã C thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình xác minh tại Ủy ban nhân dân xã N, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã C và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C xác định: Từ tháng 11/2021 đến nay, không có tổ chức, cá nhân nào đăng ký mua đất ở và đăng ký chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở đối với thửa đất số số 409, tờ bản đồ số 26, diện tích 2110,6m², địa chỉ: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS543131, số vào sổ cấp GCN: CS08119, do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/08/2019, đối với thửa đất số 409, tờ bản đồ số 26, diện tích 2110,6 m², địa chỉ: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước, chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1972 cùng thường trú tại: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước của anh Lê Minh T. Tính đến thời điểm ông B1 tố cáo Tuấn A đến Cơ quan Công an, Tuấn A vẫn chưa trả lại số tiền 100.000.000 đồng đã mượn trước đó cho anh T.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Huỳnh Tuấn A khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

- Kết luận giám định số 216/KL-KTHS, ngày 03/3/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chữ viết có nội dung “tháng 12 – 2021 tôi có Lấy tiền = 84000000 – tám muôi bốn triệu đồng . đi đóng thuế thổ cư . cho ông nguyễn văn B1” tại trang 2; chữ viết nội dung “tháng 11 – 2021. Sổ đỏ góc hiện tôi đa giữ Để mua thổ cư cho ông bằng” tại trang 3 và chữ ký, chữ viết họ tên Huỳnh Tuấn A trên mẫu cần giám định (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS543131) ký hiệu A so với chữ viết, chữ ký đứng tên Huỳnh Tuấn A trên mẫu so sánh ký hiệu M1 đến M8 do cùng một người viết, ký ra.

- Kết luận giám định số 318/KL-KTHS, ngày 04/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

+ “GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT” gửi giám định ký hiệu A là thật.

+ Hình dấu tròn nội dung “CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM * TỈNH BÌNH PHƯỚC * SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M2-M11 do cùng một con dấu đóng ra.

+ Chữ ký mang họ tên Lê Đình S trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Lê Đình S trên mẫu so sánh ký hiệu M12-M19 do cùng một người ký ra.

(Lời khai bị cáo Huỳnh Tuấn A bút lục 69-84, lời khai bị hại Nguyễn Văn B1 bút lục 81-86, Lời khai bị hại Lê Minh T bút lục 87-92, Kết luận giám định bút lục 116-117, 147-149).

Vật chứng vụ án:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS543131, số vào sổ cấp GCN: CS08119, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/08/2019, đối với thửa đất số 409, tờ bản đồ số 26, diện tích 2110,6 m², địa chỉ: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước, chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1972 cùng thường trú tại: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản nêu trên cho ông Nguyễn Văn B1 theo quy định.

- Bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS543131, số vào sổ cấp GCN: CS08119, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/08/2019, đối với thửa đất số 409, tờ bản đồ số 26, diện tích 2110,6 m², địa chỉ: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước, chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1972 cùng thường trú tại: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước bị cáo Huỳnh Tuấn A viết và ký tên xác nhận nội dung về việc giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và nhận số tiền 84.000.000 đồng của ông B1.

Trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Huỳnh Tuấn A đã bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn B1 số tiền 84.000.000 đồng, bồi thường cho anh Lê Minh T số tiền 100.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Ông B1 và anh T không có yêu cầu bồi thường nào khác. Do vậy, trách nhiện dân sự không đặt ra.

Cáo trạng số: 92/CT-VKSCT ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành: Truy tố Huỳnh Tuấn A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng; Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của 02 bị hại và mỗi lần phạm tội giá trị tài sản chiếm đoạt đều trên 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, chưa hành vi nào bị xử lý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại Nguyễn Văn B1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; là người thân tích của 02 người có công với cách mạng; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ tính chất mức độ phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, 50, điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên phạt bị cáo Huỳnh Tuấn A từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Vào tháng 11/2021, Huỳnh Tuấn A biết được ông Nguyễn Văn B1 đang có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất; Lợi dụng việc ông Bằng K hiểu biết về trình tự, thủ tục đăng ký chuyển đổi mục đích sử dụng đất nên Huỳnh Tuấn A đã nói với ông B1 để Tuấn A làm thủ tục cho nhanh. Sau khi cầm được Giấy chứng nhận QSDĐ số CS 543131 bản gốc của ông B1, bị cáo không đăng ký chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho ông B1 như đã hứa. Tháng 12/2021, do thiếu tiền để sử dụng vào mục đích riêng nên Tuấn A đã nói dối ông B1 là cần tiền để đóng thuế mua đất ở, mục đích để ông B1 giao số tiền 84.000.000 đồng (tám mươi bốn triệu đồng) cho bị cáo đóng thuế rồi chiếm đoạt số tiền này.

Vào tháng 10/2022, Huỳnh Tuấn A nói dối ông Lê Minh T về việc đã mua thửa đất số 409, tờ bản đồ số 26, diện tích 2110,6 m², địa chỉ: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS543131, số vào sổ cấp GCN: CS08119, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/08/2019 đứng tên ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1972 cùng thường trú tại: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước và sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thế chấp cho anh T để vay số tiền 100.000.000 đồng sau đó chiếm đoạt.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Huỳnh Tuấn A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Tuấn A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; Bị hại Nguyễn Văn B1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có 02 người thân thích là người có công với cách mạng; con của bị cáo bị bệnh thiểu năng, chậm phát triển, cần người chăm sóc, quan tâm đặc biệt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của 02 bị hại và mỗi lần phạm tội giá trị tài sản chiếm đoạt đều trên 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, chưa hành vi nào bị xử lý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ sức răn đe và phòng chống tội phạm chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Ông Huỳnh Văn B là cha ruột của bị cáo Huỳnh Tuấn A đã bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn B1 số tiền 84.000.000 đồng; bồi thường cho ông Lê Minh T số tiền 100.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Ông B1 và anh T không có yêu cầu bồi thường nào khác; ông B không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên nên trách nhiện dân sự không đặt ra, HĐXX không xem xét.

[6] Đối với vật chứng của vụ án:

- 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS543131, số vào sổ cấp GCN: CS08119, do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/08/2019, đối với thửa đất số 409, tờ bản đồ số 26, diện tích 2110,6 m², địa chỉ: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước đứng tên ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1972 cùng thường trú tại: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước. Đây là tài sản hợp pháp của ông B1 và bà H, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản nêu trên cho ông Nguyễn Văn B1 theo quy định, HĐXX không xem xét.

- 01 Bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS543131, số vào sổ cấp GCN: CS08119, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/08/2019, đối với thửa đất số 409, tờ bản đồ số 26, diện tích 2110,6 m², địa chỉ: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước đứng tên ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1972 cùng thường trú tại: Ấp A, xã N, thị xã C, Bình Phước; bị cáo Huỳnh Tuấn A viết và ký tên xác nhận nội dung về việc giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và nhận số tiền 84.000.000 đồng của ông B1, đây là vật chứng cần lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Kiểm sát viên đề nghị hình phạt cho bị cáo và xử lý vật chứng là đúng quy định; Tuy nhiên, xét hoàn cảnh gia đình bị cáo có con nhỏ bị bệnh thiểu năng, chậm phát triển trí tuệ, là người thân thích của 02 người có công với cách mạng, đã khắc phục toàn bộ hậu quả nên HĐXX xem xét cho bị cáo mức án thấp hơn so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận một phần.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, các Điều 38, 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  2. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tuấn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  3. Xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn A 03 (ba) năm tù. Tính từ ngày 09/12/2024.
  4. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Lưu, chuyển theo hồ sơ vụ án: 01 Bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS543131, bị cáo Huỳnh Tuấn A viết và ký tên xác nhận nội dung về việc giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và nhận số tiền 84.000.000 đồng của ông B1.

  5. Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng PV27-Công an tỉnh BP;
  • - VKSND TX. Chơn Thành;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - CQĐT CA tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS TX. Chơn Thành;
  • - Phân trại tạm giam Chơn Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HSST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 85/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Tuấn Anh - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger