Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/HSST.

Ngày: 12 - 3 - 2025.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông: Võ Huy Luận.

  2. Ông: Nguyễn Bính .

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Hà, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thịnh, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 292/2024/HSST ngày 25 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST – HS ngày 12/02/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T

Giới tính: Nam, Sinh năm 1980, tại Bình Thuận; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Kinh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1957, nghề nghiệp: Làm nông; Con bà: Lương Thị Kim Đ, sinh năm 1957, nghề nghiệp: Làm nông; Trú tại: Ấp D, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Vợ: Huỳnh Thị Tuyết N1, sinh năm 1984, nghề nghiệp: Làm nông; Con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012; Trú tại thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo Nguyễn Văn T hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang cư trú tại thôn A, xã H, huyện H “có mặt”.

*Người bị hại

  1. Ông Nguyễn Hồng P, sinh năm 1981 (vắng mặt).

    Địa chỉ: khu phố S, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

  2. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1977 (vắng mặt).

    Địa chỉ: khu phố S, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

  3. Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1992 (vắng mặt).

    Địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

*Người làm chứng:

Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố A, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào cuối năm 2021, Nguyễn Văn T là Phó giám đốc Công ty TNHH Đ1 có trụ sở chính ở huyện B, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình đo đạc đất cho các hộ dân tại thành phố P và huyện B, tỉnh Bình Thuận, biết được có nhiều người dân có nhu cầu xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tách và hợp thửa đất nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của những người này. Trong khoảng thời gian từ 10/01/2022 đến 23/5/2022, T nhiều lần dùng thủ đoạn bằng cách đưa thông tin gian dối là T có quen biết với nhiều công chức làm tại các cơ quan Nhà nước nên có thể giúp các hộ dân làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tách và hợp các thửa đất. Sau khi yêu cầu các bị hại đưa tiền cho T để làm các thủ tục trên thì T chiếm đoạt số tiền này. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất:

Vào đầu năm 2022, T gặp anh Nguyễn Hồng P (sinh năm 1981, trú tại khu phố S, phường M, thành phố P) để tiến hành đo đạc, lập bản đồ địa chính mảnh đất của anh P tại thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Anh P có hỏi T có làm được thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mảnh đất mới đo đạc hay không. Mặc dù không làm được thủ tục này nhưng T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh P nên nói dối T có nhiều mối quan hệ quen biết nên có thể làm được. T nói chi phí làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 100.000.000 đồng thì anh P đồng ý.

Ngày 10/01/2022, T và anh P gặp nhau tại một quán cà phê phía sau nhà hàng A thuộc phường P, thành phố P. Tại đây, T và anh P ký kết 01 giấy nhận tiền ghi ngày 10/01/2022 với nội dung T sẽ làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mảnh đất tại thôn T, xã H, huyện B của anh P trong thời hạn là 120 ngày, ứng trước 50% (50.000.000 đồng), số tiền còn lại sẽ nhận khi anh P được cấp Giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi ký giấy giao nhận tiền, anh P đưa cho T 50.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T không tiến hành làm bất cứ thủ tục gì để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh P mà tiêu xài hết số tiền trên. Đến khoảng tháng 5/2022, đã quá thời hạn 120 ngày như thỏa thuận nên anh P hỏi T đã làm xong thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa thì T nói dối là đang làm thủ tục và yêu cầu anh P tiếp tục đưa số tiền 50.000.000 đồng còn lại để lo thủ tục. Anh P tin tưởng T nên đã đưa tiếp số tiền 50.000.000 đồng còn lại cho T (hai bên không làm giấy giao nhận tiền). Sau khi nhận 50.000.000 đồng từ anh P, T không làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh P như đã hứa mà tiêu xài hết số tiền nêu trên.

Khoảng tháng 6/2022, anh P liên hệ T để hỏi về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì lúc này T nói không làm được và trả lại cho anh P số tiền 20.000.000 đồng, còn số tiền 80.000.000 đồng thì T đã tiêu xài hết nên không trả lại được cho anh P. Đến ngày 15/10/2023, anh Nguyễn Hồng P đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B về hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T.

Lần thứ hai:

Vào ngày 07/4/2022, do có nhu cầu hợp thửa đối với hai thửa đất tọa lạc tại khu phố S, phường M, thành phố P nên anh Trần Văn T1 (sinh năm 1977, trú tại khu phố S, phường M, thành phố P) có hỏi anh Nguyễn Hồng P thì được anh P giới thiệu T có thể làm được thủ tục xin hợp thửa. Mặc dù không làm được thủ tục này nhưng T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh T1 nên nói dối với anh T1 là có nhiều mối quan hệ quen biết nên có thể làm được các thủ tục, giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất. T nói chi phí làm thủ tục hợp thửa đất là 120.000.000 đồng thì anh T1 đồng ý. Sau đó, tại nhà anh T1 thuộc khu phố S, phường M, T và anh T1 ký kết 01 giấy giao nhận tiền ghi ngày 07/4/2022 với nội dung T sẽ làm thủ tục xin hợp thửa đất cho anh T1 trong thời hạn 120 ngày, ứng trước 50%, còn lại sẽ nhận khi anh T1 được cấp Giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi hợp thửa đất. Sau khi ký giấy giao nhận tiền, anh T1 đưa cho T số tiền 60.000.000 đồng cùng 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG298048 và AC058218 đều cấp cho bà Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1937, trú tại khu phố S, phường M, thành phố P, là mẹ ruột của anh T1). Sau khi nhận tiền từ anh T1, T không làm bất cứ thủ tục gì để xin hợp thửa đất như đã thỏa thuận với anh T1 mà tiêu xài hết số tiền trên rồi đem 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh T1 cầm thế cho anh Nguyễn Văn S (sinh năm 1970, trú tại khu phố A, phường H, thành phố P) để cấn trừ nợ từ trước. Đến khoảng tháng 08/2022, đã quá thời hạn 120 ngày như thỏa thuận, anh T1 có hỏi T đã làm xong thủ tục xin hợp thửa đất chưa thì T nói dối là đang làm thủ tục. Đến khoảng tháng 09/2022, anh T1 tiếp tục hỏi T về việc hợp thửa đất thì T nói không làm được, số tiền 60.000.000 đồng T đã tiêu xài hết nên không trả lại được cho anh T1.

Đến ngày 15/10/2023, anh Trần Văn T1 đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B về hành vi nêu trên của Trần Văn T3. .

Lần thứ ba:

Vào khoảng tháng 5/2022, anh Nguyễn Văn Á (sinh năm 1992, trú tại khu phố A, phường M, thành phố P) có nhu cầu xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có hỏi anh Nguyễn Hồng P thì được anh P giới thiệu T3. Mặc dù không làm được thủ tục này nhưng T3 nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh Á nên nói dối với anh Á là có thể làm được thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. T3 nói chi phí làm thủ tục là 60.000.000 đồng thì anh Á đồng ý. Ngày 23/5/2022, tại nhà của anh Á thuộc khu phố A, phường M, thành phố P, T3 và anh Á ký kết giấy giao nhận tiền ghi ngày 23/5/2022 với nội dung T3 sẽ làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa mảnh đất tại khu phố L, phường M của anh Á trong thời hạn là 150 ngày, ứng trước 50% (30.000.000 đồng), số tiền còn lại sẽ nhận khi anh Á được cấp Giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó anh Á đưa cho T3 số tiền 30.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền của anh Á, T3 không tiến hành làm bất cứ thủ tục gì để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Á mà tiêu xài hết số tiền trên. Đến khoảng tháng 9/2022 đã quá thời hạn 150 ngày như thỏa thuận, anh Á hỏi T3 đã làm xong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa thì T3 nói dối là đang làm và yêu cầu anh Á tiếp tục đưa số tiền 10.000.000 đồng để lo thủ tục. Anh Á tin tưởng T3 nên đã đưa số tiền

10.000.000 đồng cho T3 (hai bên không làm giấy giao nhận tiền). Sau đó, T3 không làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Á như đã hứa mà tiêu xài hết số tiền 10.000.000 đồng nêu trên. Đến khoảng tháng 11/2022, anh Á tiếp tục hỏi T3 về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thỏa thuận thì T3 nói không làm được và trả lại cho anh Á số tiền 10.000.000 đồng, còn số tiền 30.000.000 đồng thì T3 đã tiêu xài hết nên không trả lại được cho anh Á.

Đến ngày 15/10/2023, anh Nguyễn Văn Á đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B về hành vi nêu trên của Trần Văn T3.

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra còn nhận được đơn tố giác của anh Nguyễn Văn S (sinh năm 1970, trú khu phố A, phường H, thành phố P) đối với T3, quá trình điều tra xác định: Vào khoảng tháng 8/2022, anh Nguyễn Văn S nhờ T3 làm thủ tục xin tách thửa đối với thửa đất tọa lạc tại phường H, thành phố P. T3 nói chi phí làm thủ tục tách thửa đất là 160.000.000 đồng thì anh S đồng ý. Sau đó, T3 và anh S có ký kết giấy nhận tiền đề ngày 13/10/2022 với nội dung T3 làm thủ tục tách thửa đất cho anh S trong thời hạn 02 tháng, đưa trước số tiền 130.000.000 đồng, số tiền còn lại anh S sẽ đưa khi T3 làm xong thủ tục tách thửa đất cho anh S. Sau khi nhận tiền từ anh S, T3 có cùng anh S đến Chi nhánh Văn phòng Đ2 để hỏi thủ tục tách thửa đất, sau đó T3 đến thửa đất của anh S xem thì thấy anh S đã xây dựng nhà ở kiên cố trên thửa đất này, nên T3 nói cho anh S biết đã xây dựng nhà ở kiên cố thì không thể làm thủ tục tách thửa đất được. Mặc dù T3 đã nói là không làm thủ tục tách thửa được nhưng anh S vẫn bảo T3 tìm cách để làm thủ tục tách thửa đất cho mình.

Đến hết thời hạn 02 tháng như thỏa thuận, anh S hỏi T3 về thủ tục tách thửa đất như đã thỏa thuận thì T3 nói không thể làm được nên anh S yêu cầu T3 phải trả lại số tiền 130.000.000 đồng. Tuy nhiên, do T3 đã tiêu xài hết số tiền trên nên T3 đem 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG298048 và AC058218 (đều cấp cho bà Nguyễn Thị T2) do anh Trần Văn T1 đưa cho T3 để cầm thế cho anh S. Sau đó, T3 và anh S thỏa thuận số tiền 130.000.000 đồng T3 sẽ trả dần theo từng tháng cho anh S nhưng T3 chỉ trả được cho anh S số tiền 5.000.000 đồng. Do đó ngày 11/01/2024, anh S đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B về hành vi nêu trên của Trần Văn T3. .

Vật chứng của vụ án:

  • Thu giữ từ Nguyễn Văn S:

    • + 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG298048 do UBND thành phố P cấp ngày 02/10/2017 cho bà Nguyễn Thị T2 đối với thửa đất số 80, tờ bản đồ số 68, tọa lạc tại khu phố S, phường M, thành phố P;

    • + 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC058218 do UBND thành phố P cấp ngày 27/4/2005 cho bà Nguyễn Thị T2 đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại phường M, thành phố P;

  • Thu giữ từ Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động hiệu Redmi A1, kiểu máy: 220733SG, IMEI 1: 866681067208520, IMEI 2: 866681067208538;

Xử lý vật chứng và dân sự:

Đối với 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG298048; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC058218 cấp cho bà Nguyễn Thị T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại cho bà T2.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi A1, kiểu máy: 220733SG, IMEI 1: 866681067208520, IMEI 2: 866681067208538 là tài sản cá nhân của Nguyễn Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại cho T.

Nguyễn Văn T đã trả lại số tiền 30.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn Á, 60.000.000 đồng cho anh Trần Văn T1, 80.000.000 đồng cho anh Nguyễn Hồng P. Anh Á, anh T1 và anh P đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T.

Tại bản cáo trạng số 294/CT – VKSPT - HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 03 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng quy định điểm a khoản 03 Điều 174, điểm g khoản 01 Điều 52, điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 04 đến 05 năm tù.

Bị cáo xác định cáo trạng truy tố không oan sai và đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng theo quy định pháp luật.

[2]Về đánh giá chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp vời lời khai người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 10/01/2022 đến ngày 23/5/2022, Nguyễn Văn T đã đưa ra thông tin gian dối có mối quan hệ quen biết với các cán bộ, công chức làm trong các cơ quan Nhà nước nên có thể làm các thủ tục, giấy tờ liên quan đến đất đai, làm cho anh Nguyễn Hồng P, anh Trần Văn T1 và anh Nguyễn Văn Á tin thật mà đưa tiền cho T để T làm giúp các thủ tục trên. Sau khi nhận tiền từ các bị hại, T đã chiếm đoạt để tiêu xài. Cụ thể:

Lần thứ nhất:

Ngày 10/01/2022, tại quán cà phê ở khu phố B, phường P, thành phố P, anh P tin tưởng và giao số tiền 100.000.000 đồng cho T để nhờ T làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của anh P ở thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Sau khi nhận tiền từ anh P, T đã không làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh P như thỏa thuận mà chiếm đoạt và sử dụng số tiền 100.000.000 đồng vào mục đích cá nhân.

Lần thứ hai:

Ngày 07/4/2022, tại nhà của anh Trần Văn T1 thuộc khu phố S, phường M, thành phố P, anh T1 tin tưởng và giao số tiền 60.000.000 đồng cho T nhờ T làm thủ tục hợp thửa đất đối với 02 thửa đất của bà Nguyễn Thị T2 (là mẹ ruột của anh T1) ở phường M, thành phố P. Sau khi nhận tiền từ anh T1, T đã không làm thủ tục hợp thửa đất cho anh T1 như thỏa thuận mà chiếm đoạt và sử dụng số tiền 60.000.000 đồng vào mục đích cá nhân.

Lần thứ ba:

Ngày 23/5/2022, tại nhà của anh Nguyễn Văn Á thuộc khu phố A, phường M, thành phố P, anh Á tin tưởng và giao số tiền 40.000.000 đồng cho T để nhờ T làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của anh Á ở khu phố L, phường M, thành phố P. Sau khi nhận tiền từ anh Á, T đã không làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Á như thỏa thuận mà chiếm đoạt và sử dụng số tiền 40.000.000 đồng vào mục đích cá nhân. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 200.000.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 03 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Do đó cáo trạng truy tố bị cáo theo khung hình phạt và điều luật như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: bị cáo ý thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ thế nhưng chỉ vì cần tiền tiêu xài không phải lao động cực nhọc nên bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối làm cho người bị hại tin tưởng đã giao tiền cho bị cáo và bị cáo chiếm đoạt tiền của các bị hại để thỏa mãn nhu cầu cá nhân.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[3]Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo đã ba lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4]Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình có bà nội là người có công với cách mạng, hiện nay bị cáo đang trực tiếp nuôi cha mẹ già và con nhỏ (có đơn xác nhận của UBND xã H) nên bị cáo sẽ được hưởng các tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có xem xét đến nhân thân của bị cáo và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xét thấy cần xử lý nghiêm đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Về bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an P đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sỡ hữu là đúng theo quy định pháp luật.

Đối với đơn tố cáo của ông Nguyễn Văn S, quá trình điều tra xác định sau khi nhận 130.000.000 đồng từ ông S, bị cáo có cùng ông S đến Chi nhánh Văn phòng Đ2 để hỏi thủ tục tách thửa đất. Sau đó bị cáo có cho ông S biết thửa đất của ông S không tách thửa được nhưng ông S vẫn tiếp tục nhờ bị cáo tìm cách làm thủ tục tách thửa cho mình. Xác định thỏa thuận giữa ông S và bị cáo là giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với bị cáo là có căn cứ.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

*Căn cứ: điểm a khoản 03 Điều 174; điểm g khoản 01 Điều 52; điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.

*Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

*Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

*Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/3/2025).

Quyền kháng cáo của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhận

  • - VKSND thành phố Phan Thiết;

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;

  • - Người tham gia tố tụng;

  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;

  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;

  • - Lưu hồ sơ.

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HSST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 85/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger