Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/HSST

Ngày: 04/06/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Đăng Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện, Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 69/2025/TLST-HS ngày 09/05/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HS ngày 14/05/2025 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Trọng Đ - Sinh ngày 09/7/2006

    (Khi phạm tội 16 tuổi, 9 tháng, 23 ngày)

    Tên gọi khác: Không Giới tính: Nam

    HKTT: xóm H, thôn P, xã P, C, TP Hà Nội

    Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

    Văn hóa: 9/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do Chức vụ: Không

    Bố đẻ: Nguyễn Trọng T – Sinh năm: 1969

    Mẹ đẻ: Nguyễn Thị B (Đã chết)

    Vợ, con: Chưa có

    Tiền án, Tiền sự: không

    Nhân thân:

    - Tại Bản án số 111/2023/HSST, ngày 29/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội xử phạt Nguyễn Trọng Đ 17 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

    - Tại Bản án số 166/2023/HSST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 8 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung của cả hai bản án là 25 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ của bản án số 111 từ ngày 21/6/2023 đến 27/6/2023.

    - Tại Bản án số 726/2024/HSPT, ngày 24/8/2024, bị TAND TP Hà Nội xử phạt 25 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp 25 tháng tù tại Bản án số 166/2023/HSST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung của hai bản án là 50 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2023, được trừ thời gian tạm giữ của bản án số 111 từ ngày 21/6/2023 đến 27/6/2023.

    D chỉ bản số 116 do Công an huyện C lập ngày 19/01/2025.

    Bị cáo hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam S Bộ C, xã C, huyện B, TP Hà Nội (Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt).

  2. Nguyễn Hữu H - Sinh ngày: 24/12/2006

    (Khi phạm tội 16 tuổi, 4 tháng, 8 ngày).

    Tên gọi khác: Không Giới tính: Nam

    HKTT: thôn P, xã P, C, thành phố Hà Nội.

    Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ văn hóa: 10/12

    Bố đẻ: Nguyễn Hữu T1 (SN 1978);

    Mẹ đẻ: Dương Thị N (SN 1980)

    Vợ con: Chưa có

    Tiền án, tiền sự : Không

    Nhân thân:

    - Tại Bản án số 42/2024/HSST, ngày 28/6/2024, bị TAND huyện Quốc Oai, TP Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đã nộp án phí ngày 18/7/2024.

    - Tại Bản án số 179/2024/HSST ngày 27/11/2024, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 16 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù của Bản án số 42 buộc Nguyễn Hữu H phải chấp hành chung của cả hai bản án là 31 tháng tù.

    D chỉ bản số 115 do Công an huyện C lập ngày 19/01/2025.

    Bị cáo hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam S Bộ C, xã C, huyện B, TP Hà Nội (Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt).

  3. Nguyễn Bá T2 - Sinh ngày: 12/7/2006

    (Khi phạm tội 16 tuổi, 09 tháng, 20 ngày).

    Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

    HKTT: thôn K, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội

    Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ văn hóa: 10/12

    Bố đẻ: Nguyễn Bá D1 (SN 1981);

    Mẹ đẻ: Phạm Thị M (SN 1981)

    Vợ con: Chưa có

    Tiền án, tiền sự: Không

    Hiện bị can đang tại ngoại tại xã P, huyện C, TP Hà Nội.

    D chỉ bản số 117 do Công an huyện C lập ngày 19/01/2025;

    Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương (có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại:

  1. Anh Đỗ Lâm B1, sinh năm 2003 (có đơn xin xử vắng mặt).

    HKTT: Thôn K, xã P, huyện C, tp Hà Nội

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hoàng Duy P, sinh năm 1993, HKTT: xã P, huyện C, TP Hà Nội (có đơn xin xử vắng mặt).
  2. ông Nguyễn Trọng T, Sinh năm: 1969, HKTT: xã P, C, TP Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).
  3. ông Nguyễn Hữu T1, SN 1978. HKTT; xã P, C, TP Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền chơi Game qua mạng Internet, Nguyễn Trọng Đ (SN 2006, trú tại: thôn P, xã P, huyện C, TP Hà Nội) và Nguyễn Hữu H (SN 2006, trú tại: thôn P, xã P, huyện C, TP Hà Nội) nảy sinh ý định giả vờ mượn xe mô tô của bạn rồi mang đi cầm cố lấy tiền.

Khoảng 13 giờ ngày 02/5/2023, H và Đ thống nhất với nhau mượn xe mô tô của Nguyễn Bá T2 (SN: 2006, trú tại: thôn K, xã P, C, Hà Nội (bạn của Đ và H) để mang đi cầm cố lấy tiền chơi game. Sau đó, H nhắn rủ T2 đi chơi game tại quán net “H" ở thôn N, xã P, C, Hà Nội. T2 không biết ý định của H và Đ, nên T2 điều khiển xe mô tô của Thịnh BKS: 29X2 - 066.87 nhãn hiệu Honda Wave màu đen - bạc chở H. Trên đường đi gặp Nguyễn Đình M1 (SN 08/08/2007 trú tại: thôn P, xã P, huyện C, Hà Nội), thì H rủ M1 cùng đi. M1 điều khiển xe chở H ngồi giữa, T2 ngồi sau cùng. Trên đường đi, H mở điện thoại di động cho M1 xem đoạn tin nhắn giữa H và Đ thống nhất mượn xe của T2 để cầm cố. M1 đọc nội dung tin nhắn và đồng ý với H và Đ. Lúc này T2 ngồi phía sau xe không biết ý định của H, M1 và Đ.

Khi M1 điều khiển xe mô tô chở H và T2 đến quán I. H bảo M1 vào quán gọi Đ đi cầm cố xe của T2. Khi Đ đi ra nhìn thấy M1, H và T2 thì hiểu ý, Đ liền bảo T2: “Cho M1 mượn xe lai tao ra C lấy tiền”, T2 đồng ý. Đ bảo M1 điều khiển xe chở Đ đến quán nét “Anh Q” thuộc thôn N, xã P để cầm cố xe. Tại đây, Đ cầm cố xe mô tô nêu trên cho Hoàng Duy P (SN: 1996, trú tại: thôn N, xã P, C, Hà Nội, quản lý quán net Anh Q) với số tiền 5.700.000 đồng. Đ cung cấp số tài khoản của H số [...] mở tại ngân hàng TMCP Q1 cho P chuyển tiền vào tài khoản. Sau khi nhận tiền, Đ nạp vào tài khoản game để chơi; chơi được khoảng 1 tiếng thì bị thua hết tiền. Sau đó, Đ và M1 đi bộ về quán net “Hoàng V” để gặp H và T2. Lúc này, Đ nói với T2 là đã cầm cố xe của T2 để nạp tiền chơi game và thua hết. Đ bảo T2 sẽ chuộc xe cho T2 sau, nhưng T2 sợ bố mẹ mắng nên không đồng ý.

Đ nhìn thấy T2 nhắn tin cho anh Đỗ Lâm B1 (SN: 2003, trú tại: Thôn K, xã P, C, Hà Nội). Do Đ biết anh B1 có xe mô tô nên bàn bạc với H và T2 để T2 gọi anh B1 đến quán N2 để cho Đ và H tiếp tục gian dối hỏi mượn xe của anh B1 đi cầm cố lấy tiền chơi game, nếu thắng thì sẽ có tiền đi chuộc xe. T2 đồng ý và nhắn tin rủ anh B1 đến quán net “H” chơi bị - a, thì anh B1 đồng ý. Khi anh B1 điều khiển xe mô tô BKS: 29X1 - 990.15 nhãn hiệu Honda Wave màu đen - bạc đến quán net “H”. Đ lại chủ động bảo anh B1: “Cho M1 mượn xe chở tao đi mua cơm rang”, anh B1 đồng ý và đưa chìa khóa xe cho M1 rồi anh B1 đi cùng T2 vào quán chơi bi - a. Sau khi giả vờ mượn được xe, Đ điều khiển khiển xe chở M1 và H ngồi sau lại đến quán net “Anh Q” đẻ cầm cố xe lấy tiền chơi game. Khi đến quán game, M1 và Đ vào chơi game còn H cầm cố xe mô tô BKS: 29X1 - 990.15 của anh B1 cho P lấy 4.750.000 đồng, P chuyển tiền vào tài khoản của H. Sau khi có tiền, Đ và H chia nhau tiền chơi game online hết. Anh B1 thấy Đ mượn xe lâu không thấy mang về trả nên đã hỏi T2, lúc này, T2 mới nói cho anh B1 biết là Đ mượn xe của anh B1 để đi cầm cố lấy tiền chơi game. Nghe T2 nói, anh B1 rủ T2 đi tìm Đ. Khi đến quán N2 “Anh Q”, thấy Đ, M1, H đang ngồi chơi game, B1 hỏi xe đâu thì Đ bảo đã mang đi cầm cố, lấy tiền chơi game và thua hết. Đ không có tiền chuộc xe trả cho anh B1, nên anh B1 đã đến Công an xã P, huyện C trình báo sự việc.

Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với anh Hoàng Duy P (quản lý quán internet Anh Q), anh P trình bày có quen biết với Đ, H từ trước khi Đ, H nói cần vay tiền và muốn để lại xe mô tô để làm tin nên anh P đồng ý; khi cho Đ, H vay tiền giữa anh P và Đ, H không viết giấy tờ gì, anh P cũng không lấy lãi từ việc cho Đ, H vay tiền. Anh P không biết 02 chiếc xe mô tô nêu trên là do Đ, H phạm tội mà có. Đến nay gia đình Nguyễn Trọng Đ đã trả lại cho anh P số tiền 10.450.000 đồng là số tiền Đ, H đã vay của anh P, đồng thời anh P tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra 02 chiếc xe mô tô mà Đ, H đến cầm cố cho anh Hoàng Duy P.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 29X1 - 990.15, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đen - bạc, xe cũ đã qua sử dụng (do anh Hoàng Duy P giao nộp).
  • 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 29X2 - 066.87, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đen - bạc, xe cũ đã qua sử dụng (do anh Hoàng Duy P giao nộp).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐG ngày 19/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thuộc UBND huyện C kết luận:

“- 01 xe mô tô BKS: 29X1 - 990.15, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đen - bạc, số khung: RLHJA3920MY274913, số máy: JA39E2396902, xe cũ đã qua sử dụng, đăng ký tháng 10/2021 tại thời điểm tháng 5/2023 có giá trị là: 15.500.000đ;

- 01 xe mô tô BKS: 29X2 - 066.87, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đen - bạc, số khung: RLHJA3924NY225733, số máy: JA39E2722653, xe cũ đã qua sử dụng, đăng ký tháng 6/2022 tại thời điểm tháng 5/2023 có giá trị là 17.500.000đ”.

* Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Qúa trình điều tra xác định: 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 29X1 - 990.15, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đen - bạc là của anh Đỗ Lâm B1 (bị hại), xe có đầy đủ giấy tờ hợp pháp. Ngày 08/9/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe cho anh Đỗ Lâm B1 quản lý. Đỗ Lâm B1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm gì khác và 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 29X2 - 066.87 nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đen - bạc là của bị can Nguyễn Bá T2 xe có đầy đủ giấy tờ hợp pháp. Ngày 20/12/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe cho Nguyễn Bá T2 quản lý. Nguyễn Bá T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm gì khác.

Đại diện gia đình Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H đã gặp trả lại cho anh P số tiền 10.450.000 đồng là số tiền Đ, H đã vay của anh P; anh P đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bồi thường gì nữa.

Đối với Nguyễn Đình M1 - sinh ngày 08/8/2007 có tham gia cùng Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H và Nguyễn Bá T2 thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày 02/5/2023. Tuy nhiên tại thời điểm xảy ra vụ án, Nguyễn Đình M1 dưới 16 tuổi nên theo quy định tại Điều 12 BLHS thì hành vi của Nguyễn Đình M1 không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H, Nguyễn Bá T2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 29/04/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H và Nguyễn Bá T2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

- Bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Qúa trình điều tra các bị cáo Đ, H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình tại các bản tự khai và biên bản lấy lời khai. Tại phiên tòa Bị cáo Nguyễn Bá T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H và Nguyễn Bá T2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS. Đề nghị:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56, Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 BLHS 2015, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Trọng Đ từ 12 đến 15 tháng tù. Tổng hợp 50 tháng tù của Bản án số 726/2024/HSPT, ngày 24/8/2024 của TAND TP Hà Nội buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án từ 62 tháng đến 65 tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Hữu H từ 12 đến 15 tháng tù. Tổng hợp 31 tháng tù của bản án số 179/2024/HSST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án từ 43 tháng đến 46 tháng tù.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 BLHS 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T2 từ 9 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xét thấy trong quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan trong hồ sơ vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 290; 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về nội dung:

[2.1] Qúa trình điều tra và Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận:

Do không có tiền chơi game, Nguyễn Trọng Đ và Nguyễn Hữu H cùng trú tại xã P, huyện C, TP Hà Nội rủ nhau chiếm đoạt xe mô tô bằng thủ đoạn giả vờ hỏi mượn xe mô tô của bạn, rồi mang đi cầm cố lấy tiền chơi game.

- Khoảng 14 giờ ngày 02/5/2023, Đ và H giả vờ mượn xe mô tô BKS: 29X2 - 066.87 trị giá 17.500.000 đồng của Nguyễn Bá T2, rồi mang đi cầm cố cho anh Hoàng Duy P lấy 5.700.000 đồng, số tiền này Đ đã sử dụng chơi game và bị thua hết.

- Không trả được xe cho T2. Đến khoảng 17 giờ ngày 02/5/2023, Đ và H tiếp tục bàn bạc rủ T2 để T2 gọi bạn là anh Đỗ Lâm B1 đến quán nét chơi, để cho Đ và H giả vờ mượn xe máy của anh B1 rồi mang đi cầm cố lấy tiền chơi game, nếu thắng thì mới có tiền chuộc lại xe trả cho T2. Sau đó Đ và H mang chiếc xe mô tô BKS: 29X1 - 990.15 trị giá 15.500.000 đồng của anh Đỗ Lâm B1 đến cầm cố cho anh Hoàng Duy P lấy 4.750.000 đồng, Đ và H chia nhau chơi game và bị thua hết.

Tổng trị giá 02 chiếc xe mô tô là 33.000.000 đồng.

Hành vi của Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H, Nguyễn Bá T2 đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H, Nguyễn Bá T2 theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an, an ninh tại địa phương, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng, mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Trong vụ án có tính chất đồng phạm, xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy:

Đối với bị cáo Nguyễn Trọng Đ và Nguyễn Hữu H cùng nhau thống nhất

mượn xe của bạn rồi mang đi cầm cố. Trong đó bị cáo Nguyễn Trọng Đ là người trực tiếp giả vờ mượn xe của Nguyễn Bá T2 và của Đỗ Lâm B1, trực tiếp cầm cố chiếc xe của Nguyễn Bá T2 và chi tiêu hết số tiền cầm cố. Bị cáo Nguyễn Hữu H trực tiếp nhắn tin rủ T2 đi chơi game để giả vờ cùng Đ mượn xe của T2, là người trực tiếp mang đi cầm cố chiếc xe của B1 lấy tiền chia nhau chơi game. Bản thân 02 bị cáo đều có nhân thân xâu. Cụ thể bị cáo Nguyễn Trọng Đ ngày 29/09/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội xử phạt 17 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 27/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 8 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Ngày 24/8/2024, bị TAND TP Hà Nội xử phạt 25 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Bị cáo Nguyễn Hữu N1 28/6/2024, bị TAND huyện Quốc Oai, TP Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Ngày 27/11/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 16 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Do vậy cần có hình phạt nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo trở thành người tốt, biết tuân thủ pháp luật.

Đối với bị cáo Nguyễn Bá T2, cùng thống nhất gian dối giúp sức cho Đ và

H chiếm đoạt xe của anh Đỗ Lâm B1, mang đi cầm cố lấy tiền chơi game, đồng phạm giúp sức với H với Đ, bản thân bị cáo cũng là bị hại khi bị Đ và H lừa mượn xe của mình, bị cáo có vai trò thấp nhất trong vụ án. Do vậy cần có hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.

[2.2] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H có nhân thân xấu, đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, truy tố, xét xử.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H phạm tội 02 lần, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; gia đình bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H đã khắc phục bồi thường cho người có quyền lời nghĩa vụ liên quan là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo Nguyễn Bá T2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H, Nguyễn Bá T2 đã trên 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ căn cứ Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, vai trò đồng phạm, mức độ hành vi của các bị cáo, khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội còn hạn chế, cần áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng, với thời gian ngắn nhất để giáo dục, giúp đỡ các bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh trở thành công dân có ích cho xã hội.

Xét bị cáo Nguyễn Bá T2 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo cũng là bị hại, bị cáo có công việc và có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2.5]. Về tổng hợp hình phạt: Các bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H đều đang phải chấp hành một Bản án đối với hành vi phạm tội của mình. Do vậy, khi áp dụng hình phạt cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc các bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai Bản án.

[2.6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[2.7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Bị hại đã nhận được tài sản không yêu cầu bồi thường gì khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.

[2.8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H, Nguyễn Bá T2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56, Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 BLHS 2015, xử phạt:

    - Nguyễn Trọng Đ 18 (mười tám) tháng tù.

    Tổng hợp 50 tháng tù của bản án số 726/2024/HSPT ngày 24/8/2024 của TAND thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành các bản án là 68 (Sáu mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2023, được trừ thời gian tạm giữ của bản án số 111 từ ngày 21/6/2023 đến 27/6/2023.

    - Nguyễn Hữu H 18 (mười tám) tháng tù.

    Tổng hợp 31 tháng tù của bản án số 179/2024/HSST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành các bản án là 49 (Bốn mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/06/2024.

    Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 BLHS 2015, xử phạt Nguyễn Bá T2 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Bá T2 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Hữu H, Nguyễn Bá T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện (02 bản);
  • - Chi cục THA dân sự Chương Mỹ
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Phú Nghĩa;
  • - Lưu HS, VP

TM. Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Vương Đăng Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HSST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 85/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên án các bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger