Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 85/2025/HS-ST

Ngày 27 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Kim Thúy.

Ông Nguyễn Quang Bằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Thanh Huyền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Xuân Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Lei S (Lôi Thế T), sinh ngày 15 tháng 02 năm 1991; tại Hồ N, Trung Quốc; hộ chiếu số: EJ4025824 cấp ngày 10/3/2021 tại Cục X1 Bộ C3 (có giá trị đến ngày 09/3/2031); Giấy chứng minh nhân dân số: 431121199102158431 cấp ngày 22/3/3019 (có giá trị đến ngày 22/3/2039); Hộ khẩu thường trú: Tổ A, thôn T, thị trấn C, huyện K, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc; Chỗ ở hiện nay: NP7 – 4, đường L, KĐT N, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Kinh Doanh - Là Giám đốc điều hành Công ty TNHH H9; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Hán; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Trung Quốc; họ tên cha: Lei J (Lô I; họ tên mẹ: Li Xue M (Lý Tuyết M1); họ tên vợ: Hou T (Hầu Đình Đ) và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không,(Bố mẹ, vợ, con bị cáo đều ở Tổ A, thôn T, thị trấn C, huyện K, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc).

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, đến nay “có mặt”.

Người phiên dịch cho bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T): Ông Đào Quang C1, sinh năm 1979; nơi công tác: Công an xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Ông C2 tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ, chuyên ngành tiếng Trung), “có mặt”.

  1. Lê Thị H, sinh ngày 28 tháng 9 năm 1997; tại huyện M, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Phiên dịch Công ty TNHH H9; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N và bà Đặng Thị P; Có chồng là Đoàn Quốc H1 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, đến nay, “có mặt”.

  1. Đặng Thị Vân A, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1993; tại huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: TDP Đ, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Đảng, đoàn thể: Là Đảng viên Đ1 (ngày 27 tháng 5 năm 2025 đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 129/QĐ/UBKTHU của UBKT huyện ủy huyện M, Thành Phố Hà Nội); dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Y và bà Trần Thị N1; Có chồng là Nguyễn Bá H2 và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, đến nay, “có mặt”.

  1. Nguyễn Thị Như L, sinh ngày 22 tháng 02 năm 1984; tại huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số nhà B – B3, Tập thể Đại học S, TDP số D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị L1; Có chồng là Đào Đức D (đã ly hôn) và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, đến nay “có mặt”.

  1. Nguyễn Huy T1, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1990; tại huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã C, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L2 và bà Nguyễn Thị H3; có vợ là Nguyễn Thị N2 và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, đến nay “có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH H9; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Người đại diện theo pháp luật: Ông Z (Trương Hiểu P1) – Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Kim X – Kế toán Công ty, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11/2019, Đỗ Việt D1, sinh năm 1991; trú tại TDP T, phường K, TP V, Vĩnh Phúc thống nhất với Zhang X (Trương Hiểu P1), sinh năm 1983, Quốc tịch: Trung Quốc, hộ chiếu số E45141228, hộ khẩu thường trú: Thành phố Đ, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc góp vốn thành lập Công ty TNHH Y1, Mã số thuế: 2500638556 (viết tắt là Công ty Y1), địa chỉ: TDP Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để kinh doanh sản xuất gia công các sản phẩm điện tử. Công ty Y1 đăng ký lần đầu ngày 14/11/2019, Tổng Giám đốc, người đại diện theo pháp luật: Phùng Thanh H4, sinh năm 1962; hộ khẩu thường trú: Phường K, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc (mẹ của D1). Ngày 12/8/2020, Công ty Y1 đổi tên thành Công ty TNHH H9 (viết tắt là Công ty H10), Tổng Giám đốc, người đại diện trước pháp luật: Đỗ Việt D1. Thực tế, ZHANG XIAOFENG (Trương Hiểu P1) là người đầu tư vốn, máy móc, cử người Trung Quốc điều hành mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty H10, Đỗ Việt D1 chỉ đứng tên người đại diện trước pháp luật, không tham gia bất cứ hoạt động nào của Công ty H10.

Từ ngày 01/4/2021, Trương Hiểu P1 thuê Lei S (Lôi Thế T), sinh năm 1991, Quốc tịch: Trung Quốc, hộ chiếu số: EJ 4025824, hộ khẩu thường trú: Thị trấn C, huyện K, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc sang Việt Nam điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty H10. Khi đến Công ty H10, Lei S (Lôi Thế T) được hợp thức việc điều hành công ty bằng cách Đỗ Việt D1 ủy quyền làm Giám đốc điều hành toàn bộ mọi hoạt động của Công ty H10.

Trong quá trình điều hành việc kinh doanh của Công ty H10, để phục vụ sản xuất và đảm bảo tiến độ theo yêu cầu của khách hàng, L4 (Lô I) đã thuê gia công bản mạch điện tử và mua một số hàng hóa trên thị trường như thiếc thanh, thiết bị điện, kem hàn, keo đỏ, cồn công nghiệp, nước rửa mạch, chất trợ hàn, mỡ sửa hàng...nhưng không có hóa đơn giá trị gia tăng (viết tắt GTGT). Để hợp thức chứng từ đầu vào cho hàng hóa dịch vụ và tăng chí phí đầu vào, giảm tiền thuế phải nộp, L4 (Lô I) đã chỉ đạo Đặng Thị Vân A, sinh năm 1993; trú tại: Tổ dân phố Đ, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc là nhân viên kế toán và Lê Thị H, sinh năm 1997; trú tại: thôn C, xã T, huyện M, Hà Nội là nhân viên phiên dịch Công ty H10 mua trái phép hóa đơn GTGT cho Công ty H10. Do mối quan hệ xã hội hạn chế, không biết nơi mua bán hóa đơn nên Vân A đã bảo H tìm mua hóa đơn. H đã nhờ anh họ là Nguyễn Huy T1, sinh 1990, trú tại: Thôn N, xã C, huyện M, Hà Nội tìm mua trái phép hóa đơn mặt hàng thiếc thanh, thiết bị điện, gia công, sơn... cho Công ty H10.

Do Tưởng quen Nguyễn Thị Như L, sinh năm 1984, trú tại: Số nhà B – B3, tập thể Đại học S, TDP số D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội, biết L đang quản lý 03 công ty, cụ thể:

Khoảng cuối tháng 11/2019, Nguyễn Thị Như L biết anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, huyện M, Hà Nội, Giám đốc Công ty Cổ phần N3 (viết tắt là Công ty N3), MST: 0108557759 (đăng ký lần đầu ngày 07/01/2019), địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện M, Hà Nội có ý định giải thể công ty do không phát sinh hoạt động. Thông qua giới thiệu, anh T2 đã nhờ L làm thủ tục chuyển nhượng công ty Green Kites cho người khác để không phải làm thủ tục đóng mã số thuế. Lý thuê một người đàn ông (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) làm thủ tục đổi tên công ty N3 thành Công ty TNHH T6 (viết tắt là Công ty T6), M4, địa chỉ: Phường T, quận C, TP Hà Nội, đứng tên Giám đốc, người đại diện trước pháp luật: Nguyễn Văn L3, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: xã Đ, huyện C, Hà Nội, đăng ký thay đổi ngày 17/12/2019, chi phí hết 14.000.000₫.

Tháng 4/2021, L tiếp tục mua 02 công ty với giá 15.000.000đ/01 công ty gồm: Công ty TNHH T7 (viết tắt là Công ty T7), MST 0108819549, địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, đường P, phường T, quận C, Hà Nội, đăng ký thành lập ngày 12/7/2019, Giám đốc, người đại diện theo pháp luật: Cà Thị D2, sinh năm 1991, hộ khẩu thường trú: Bản Ly, xã C, huyện T, Điện Biên và Công ty Cổ phần Đ2 (viết tắt là Công ty Đ2), M5, địa chỉ: B, đường D, phường M, quận C, Hà Nội, Giám đốc, người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1984, HKTT: Phường T, quận B, Hà Nội (quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch người bán 02 công ty này cho L).

Nguyễn Huy T1 liên hệ mua hoá đơn GTGT của L, L đồng ý bán với giá 06% giá trị tiền hàng ghi khống trước thuế. Sau đó T1 thỏa thuận với H bán trái phép hóa đơn cho Công ty H10 với giá 10% giá trị tiền hàng ghi khống trước thuế đối với mặt hàng thiếc thanh, thiết bị điện, gia công, sơn và 08% giá trị tiền hàng ghi khống trước thuế đối với mặt hàng kem hàn, keo đỏ, cồn công nghiệp, nước rửa mạch, chất trợ hàn, mỡ sửa hàng...; T1 thống nhất trả cho H 01% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn trước thuế.

Sau khi thỏa thuận, Hà báo lại với Lei Shi C (Lôi Thế T) giá mua hóa đơn khống như T1 đưa ra thì T đồng ý. Khi cần mua hóa đơn, căn cứ vào lượng hàng hóa, dịch vụ mua thực tế trên thị trường, Vân A sẽ tính toán, cân đối số lượng, hàng hóa, đơn giá cần ghi trên hóa đơn khống để hợp thức sau đó cùng H báo cáo Lei Shi C (Lôi Thế T) đồng ý, thì H thông báo cho Tưởng số lượng hàng hóa, đơn giá cần ghi khống và T1 thông báo lại cho L xuất hóa đơn khống của Công ty T6, Công ty T7 và Công ty Đ2 cho Công ty H10 kèm theo Hợp đồng mua bán hàng hóa, biên bản nghiệm thu bàn giao. Lý tự ký chữ ký đứng tên Giám đốc Công ty T6 (Nguyễn Văn L3), Công ty T7 (Cà Thị D2) và Công ty Đ2 (Nguyễn Thanh T3), sau đó đóng dấu tròn công ty, dấu chức danh rồi gửi chuyển phát nhanh hóa đơn, chứng từ khống cho T1. Tưởng đến nhà H hoặc Công ty H10 để đưa hóa đơn, chứng từ khống cho H, sau đó Hà chuyển lại để Vân A hoàn thiện.

Để hợp thức việc mua bán trái phép hóa đơn, Vân A hoặc H sử dụng tài khoản ngân hàng của Công ty H10 chuyển tiền thanh toán cho Công ty T7, Công ty Đ2 và Công ty T6 qua hệ thống Internet banking. Để che giấu dòng tiền hợp thức mua bán trái phép hóa đơn chuyển lại cho Công ty H10, Lei S (Lô I) đã liên hệ và nhờ Guo B (Quách Bân M2), sinh năm 1983, Quốc tịch: Trung Quốc, tạm trú tại: Phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh nhận tiền qua tài khoản để đổi sang tiền mặt, Quách Bân M2 đồng ý và cung cấp số tài khoản ngân hàng đứng tên Đỗ Thị H5, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: Phường H, thành phố T, Bắc Ninh do Quách Bân M2 sử dụng và tài khoản Nguyễn Ngọc H6, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: TDP X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh cho Lei S (Lôi Thế T) để chuyển tiền (trường hợp Quách Bân M2 không có đủ tiền mặt thì Quách Bân M2 nhờ Nguyễn Ngọc H6 nhận tiền sau đó đổi sang tiền mặt). Lei S (Lôi Thế T) nhờ Zhang J (Trương Kiến P2), sinh năm 1985, thường trú tại: Huyện D, thành phố H, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc (nhân viên kỹ thuật Công ty H10) nhận tiền qua tài khoản sau đó chuyển đến tài khoản Nguyễn Ngọc H6 hoặc đưa tiền mặt cho T. L4 (Lôi Thế T) cung cấp số tài khoản của Đỗ Thị H5, Nguyễn Ngọc H6 và Trương Kiến P2 cho Lê Thị H để nhận tiền hợp thức mua bán trái phép hóa đơn.

Lê Thị H nhờ Trần Thị Kim X, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: Thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nhân viên của Công ty H10) và Z1 (Trương Tự H7), sinh năm 1983, thường trú tại: Huyện D, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc (nhân viên kỹ thuật Công ty H10) nhận tiền qua tài khoản sau đó rút tiền mặt đưa cho Lei Shi C (Lô I). H cung cấp số tài khoản của Đỗ Thị H5, Nguyễn Ngọc H6 và Trương Kiến P2, Trần Thị Kim X, Trương Tự H7 và số tài khoản của Lê Thị H cho Nguyễn Huy T1, yêu cầu T1 chuyển trả lại tiền cho Công ty H10 thông qua các tài khoản này hoặc đưa tiền mặt lại cho Lê Thị H. Tưởng cung cấp lại các số tài khoản này và số tài khoản của T1 cho L, để L chuyển tiền hợp thức mua bán trái phép hóa đơn.

Sau khi 03 công ty do L điều hành nhận được tiền thanh toán của Công ty H10, L giữ lại tiền bán trái phép hóa đơn theo thỏa thuận sau đó chuyển tiền từ tài khoản 03 công ty vào tài khoản của L và Vũ Duy A1, sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Vũ Duy A1 là bạn trai của L được nhờ nhận hộ tiền qua tài khoản, sau đó Anh đăng nhập vào tài khoản và đưa điện thoại cho cho Lý mượn để chuyển tiền). Tiếp theo đó, L sử dụng tài khoản 03 công ty, tài khoản của L và Vũ Duy A1 chuyển tiền trả cho Công ty H10 thông qua tài khoản do T1 cung cấp nêu trên hoặc L đưa tiền mặt cho T1. Tưởng giữ lại tiền bán hóa đơn theo thỏa thuận sau đó chuyển lại tiền cho Công ty H10 thông qua tài khoản do H cung cấp nêu trên hoặc đưa tiền mặt cho Lê Thị H. H giữ lại tiền hưởng lợi mua bán hóa đơn theo thỏa thuận nêu trên, sau đó H chuyển tiền đến tài khoản do Lôi Thế T cung cấp như trên (để đổi sang tiền mặt) hoặc H đưa tiền mặt cho Lôi Thế T.

Đối với số tiền hợp thức mua bán trái phép hóa đơn chuyển lại cho Lei S (Lôi Thế T), T sử dụng toàn bộ số tiền này để thanh toán tiền mua hàng hóa trên thị trường, chi phí gia công không có hóa đơn cho Công ty H10.Với cách thức mua bán trái phép hoá đơn như trên từ tháng 4/2021 đến tháng 3/2022, L4 (Lôi Thế T) đã chỉ đạo Lê Thị H mua trái phép tổng số 21 hóa đơn GTGT khống của 03 công ty xuất cho Công ty H10 gồm:

  • Công ty T7 07 hóa đơn GTGT, tiền hàng ghi khống trước thuế: 1.698.752.000đ, tiền thuế GTGT: 169.875.200đ, tiền thanh toán: 1.868.627.200đ.
  • Công ty Đ2 09 hóa đơn GTGT, tiền hàng ghi khống trước thuế: 15.349.500.000đ, tiền thuế GTGT: 1.534.950.000đ, tiền thanh toán là: 16.884.450.000₫.
  • Công ty T6 05 hóa đơn GTGT, tiền hàng ghi khống trước thuế: 1.045.340.000đ, thuế GTGT: 104.534.000đ, tiền thanh toán: 1.149.874.000đ.

Tổng tiền hàng ghi khống trước thuế của 21 hóa đơn là: 18.093.592.000đ, tiền thuế GTGT: 1.809.359.200đ, tổng tiền thanh toán là: 19.902.951.200đ. Công ty H10 đã thanh toán hợp thức cho 03 Công ty là: 11.655.450.850₫ (số chưa hợp thức 8.247.500.350đ), trong đó thanh toán cho số hàng hóa giá mua hóa đơn 10% là: 10.505.576.850đ, thanh toán cho số hàng hóa giá mua hóa đơn 8% là: 1.149.874.000đ. Tưởng thu lợi số tiền: 296.969.132đ, H thu lợi số tiền: 105.958.644đ, Lý thu được số tiền: 635.751.865₫.

Sau khi mua được hóa đơn, L4 (Lô I) đã chỉ đạo Đặng Thị Vân A kê khai toàn bộ 21 hóa đơn GTGT trong 05 kỳ kê khai (từ quý 2/2021 đến quý 4/2021, tháng 2/2022 và tháng 3/2022). Tại kỳ kê khai thuế tháng 3/2022, số thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau của công ty H10 bằng không, lũy kế cộng dồn của 21 hóa đơn khống là 1.809.359.200đ. Như vậy, tính đến kỳ kê khai thuế tháng 3/2022, tổng số thuế GTGT trên 21 hóa đơn khống đã được khấu trừ hết.

Ngày 18/6/2024, Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh V đã có Quyết định trưng cầu giám định số 219/QĐ-ANĐT-Đ1, đề nghị Cục thuế tỉnh V giám định về thuế. Tại Kết luận giám định ngày 15/7/2024, Giám định viên Cục thuế tỉnh kết luận: “Hành vi sử dụng không hợp pháp 21 số hóa đơn để khấu trừ thuế GTGT đầu vào của Công ty H10 được xác định là hành vi trốn thuế, số thuế GTGT trốn được xác định là: 1.809.359.200đ. Về thuế TNDN, chưa đủ cơ sở để kết luận”.

Quá trình điều tra xác định ngoài việc bán 21 hóa đơn GTGT cho Công ty H10 nêu trên còn có một số người (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đã tìm, gặp L để đặt vấn đề mua trái phép hóa đơn mặt hàng: Văn phòng phẩm, vật tư, thiết bị dân dụng, linh kiện điện tử, cước vận chuyển.... cho 55 công ty, đơn vị (có danh sách kèm theo). L đồng ý bán hóa đơn cho người mua với giá 6% giá trị tiền hàng ghi khống trước thuế. Người mua hóa đơn thông báo khối lượng, đơn giá cần ghi khống cho L. Lý xuất hóa đơn khống của 03 công ty “ma” nêu trên cho công ty, đơn vị mà người mua yêu cầu, kèm theo hợp đồng, biên bản giao nhận hàng hóa do Lý tự ký, đóng dấu Giám đốc, dấu tròn 03 công ty sau đó gửi các chứng từ này đến địa chỉ do người mua hóa đơn cung cấp.

Để hợp thức mua bán trái phép hóa đơn, sau khi công ty, đơn vị mua hóa đơn thanh toán cho 03 công ty do L điều hành, L thực hiện rút tiền mặt tài khoản 03 công ty, sử dụng tài khoản ngân hàng 03 công ty chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của L, hoặc thông qua người làm dịch vụ đổi tiền gồm: Tô Thị M3, sinh năm 1961, hộ khẩu thường trú: Phường H, quận H, Hà Nội; Hà Thị Ngọc T4, sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: Phường T, quận N, Thành phố Hà Nội để đổi tiền tài khoản sang tiền mặt. Sau đó, L giữ lại tiền bán hóa đơn theo thỏa thuận đối trừ với tiền thanh toán, L chuyển số tiền còn lại cho người mua hóa đơn bằng hình thức đưa tiền mặt.

Từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2023, L đã bán trái phép tổng số 609 hóa đơn mặt hàng văn phòng phẩm, vật tư, thiết bị dân dụng, linh kiện điện tử, cước vận chuyển...cho 55 Công ty, đơn vị với tổng tiền hàng trước thuế 34.358.161.574₫, tiền thuế 3.097.225.125đ, tổng tiền thanh toán là 37.455.386.699đ (có bảng kê chi tiết kèm theo), Lý thu được số tiền bán hóa đơn là: 2.061.489.694₫.

Để hợp thức đầu vào Lý đã liên hệ với một người phụ nữ tên “H8” khoảng 40 tuổi (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) để mua trái phép hóa đơn đầu vào với giá 4,6% giá trị tiền hàng ghi khống trước thuế, Lý hưởng lợi số tiền chênh lệch mua bán trái phép hóa đơn. Hiện chưa xác định được các công ty, số lượng hóa đơn khống xuất cho 03 công ty “ma” của L, vì L đã tiêu hủy hóa đơn và chứng từ kèm theo trước khi Cơ quan điều tra phát hiện vụ việc. Kết quả làm việc với các cơ quan thuế quản lý, không xác định được các hóa đơn đầu vào đối với các công ty của L (do quy định pháp luật về thuế không yêu cầu doanh nghiệp phải lập danh sách, thống kê chi tiết các hóa đơn đầu vào mà chỉ phải khai tổng số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ).

Khi người mua hóa đơn thông báo số lượng (hoặc khối lượng), đơn giá, tiền hàng cần ghi khống cho L, thì L liên hệ với H8 để mua hóa đơn ghi khống đầu vào với số lượng (hoặc khối lượng), đơn giá, tiền hàng ghi khống tương ứng bằng so với đầu ra, mục đích hưởng lợi 1,4% giá trị tiền hàng ghi khống trước thuế (tiền chênh lệch giữa bán hóa đơn đầu ra và mua trái phép hóa đơn đầu vào). Tổng số tiền thu được từ việc bán 630 hóa đơn cho công ty H10 và 55 công ty, đơn vị nêu trên với 6% số tiền hàng ghi khống trước thuế là 52.451.753.574đ. Tuy nhiên số tiền L mua hóa đơn thuế đầu vào là 4,6% = 2.412.780.664đ. Do vậy số tiền thu được từ việc bán hóa đơn cho Công ty H10 và 55 công ty, đơn vị nêu trên là 2.697.241.559đ, đối trừ với tiền L mua hóa đơn khống, số tiền L mua thủ tục đăng ký thành lập các công ty, L hưởng lợi tổng số tiền 240.460.895₫.

* Về tạm giữ và xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu:

  • Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ 630 hóa đơn GTGT ghi khống của Công ty Đ2, Công ty T7 và Công ty T6; thu giữ của Nguyễn Thị Như L 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng, 01 USB token của Công ty T7, 01 USB token của Công ty T6, 02 quyển sec của Công ty T7.
  • Trong quá trình điều tra bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T) tự nguyện giao nộp số tiền 1.809.359.200đ để khắc phục số tiền trốn thuế, bị cáo L giao nộp số tiền thu lợi bất chính 240.460.900đ; bị cáo T1 giao nộp 190.000.000đ; bị cáo H giao nộp 105.958.700đ.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T), Lê Thị H, Đặng Thị Vân A, Nguyễn Thị Như L, Nguyễn Huy T1 đều đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKS-P1 ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố: Các bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T), Lê Thị H và Đặng Thị Vân A về tội “Trốn thuế” theo quy định tại khoản 3 Điều 200 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Thị Như L về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Huy T1 về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 203 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Lei Shi C (Lôi Thế T), Lê Thị H và Đặng Thị Vân A phạm tội “Trốn thuế”; Bị cáo Nguyễn Thị Như L và bị cáo Nguyễn Huy T1 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.

  • Áp dụng khoản 3 Điều 200; điểm b, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 35, 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T) số tiền từ 1.600.000.000đ đến 1.800.000.000đ để sung ngân sách nhà nước.
  • Áp dụng khoản 3 Điều 200; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm.
  • Áp dụng khoản 3 Điều 200; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Thị Vân A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
  • Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Như L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T1 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị trả lại bị cáo L 01 USB token, 01 USB token, 02 quyển séc; Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng.

Tịch thu, sung ngân sách đối với số tiền các bị cáo giao nộp; truy thu buộc bị cáo T1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính còn thiếu chưa nộp, để sung ngân sách nhà nước.

Các bị cáo không có tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, đại diện Công ty H10 không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, các bị cáo khai nhận:

[2.1]. Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2021 đến tháng 3/2022, L4 (Lôi Thế T) - Giám đốc điều hành Công ty H10 đã chỉ đạo Đặng Thị Vân A, nhân viên kế toán và Lê Thị H, nhân viên phiên dịch của Công ty, mua khống hoá đơn GTGT với mục đích hợp thức chứng từ đầu vào, kê khai trốn thuế. Thông qua Nguyễn Huy T1, Công ty H10 đã mua của Nguyễn Thị Như L 21 hoá đơn GTGT với tổng tiền hàng ghi khống trước thuế 18.093.592.000đ, tiền thuế GTGT 1.809.359.200đ, tổng tiền thanh toán 19.902.951.200đ. Công ty H10 đã thanh toán hợp thức cho 03 Công ty 11.655.450.850đ, trong đó thanh toán cho số hàng hóa giá mua hóa đơn 10% là 10.505.576.850đ, thanh toán cho số hàng hóa giá mua hóa đơn 8% là 1.149.874.000đ. Tưởng thu lợi số tiền 296.969.132đ, H thu lợi số tiền 105.958.644đ và Lý thu được số tiền 635.751.865₫.

Sau khi mua 21 hóa đơn GTGT của 03 công ty trên, L4 (Lô I) đã chỉ đạo Đặng Thị Vân A sử dụng để hợp thức hàng hóa dịch vụ đầu vào, kê khai quyết toán thuế với Cơ quan thuế và Công ty H10 đã được khấu trừ số tiền thuế giá trị gia tăng là 1.809.359.200đ. Kết luận giám định số tiền trốn thuế là 1.809.359.200đ.

[2.2]. Ngoài việc bán 21 hoá đơn cho Công ty H10 nêu trên, trong khoảng thời gian từ tháng 01/2020 đến tháng 6/2023 Nguyễn Thị Như L còn bán trái phép 609 hoá đơn cho 55 công ty, đơn vị. Tổng số tiền bán 630 hóa đơn L hưởng lợi là 240.460.895₫.

[3]. Xét lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Công ty H10 sử dụng 21 hóa đơn GTGT đầu vào của 03 Công ty gồm: công ty Đ2, Công ty C4, Công ty T6 ghi khống (hóa đơn không có hàng hóa, dịch vụ, không có giao dịch mua bán thực tế). Để hạch toán và kê khai thuế GTGT đầu vào, là hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn, không đáp ứng điều kiện khấu trừ thuế GTGT theo quy định và đã làm giảm số thuế GTGT phải nộp của Công ty H10 số tiền 1.809.359.200đ.

[3.1]. Hành vi sử dụng không hợp pháp 21 số hóa đơn để khấu trừ thuế GTGT đầu vào của Công ty H10 là hành vi trốn thuế, đã vi phạm khoản 4, khoản 5 Điều 108 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội và khoản 4 Điều 143 của Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc Hội quy định về hành vi trốn thuế. Tổng số tiền thuế GTGT mà Công ty H10 trốn không nộp vào ngân sách Nhà nước là 1.809.359.200đ.

[4]. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Lei Shi C (Lôi Thế T), Lê Thị H và Đặng Thị Vân A đã phạm vào tội “Trốn thuế”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 200 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Khoản 3 Điều 200 của Bộ luật Hình sự quy định:

“3. Phạm tội trốn thuế với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm".

[4.1]. Đối với Nguyễn Thị Như L quản lý, điều hành 03 công ty “ma” để bán trái phép hóa đơn. L đã thực hiện hành vi bán trái phép 630 hóa đơn GTGT khống (hóa đơn không có hàng hóa, không có giao dịch mua bán thực tế), thu lời bất chính số tiền 240.460.895đ. Nguyễn Huy T1 đồng phạm với bị cáo L mua bán trái phép 21 hóa đơn GTGT khống (hóa đơn không có hàng hóa, không có giao dịch mua bán thực tế), thu lời bất chính số tiền 296.969.132đ.

[4.2]. Hành vi của Nguyễn Thị Như L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 của Bộ luật Hình sự; Nguyễn Huy T1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 203 của Bộ luật Hình sự.

Điểm d, đ khoản 2 Điều 203 của Bộ luật Hình sự quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Hóa đơn đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;
  • T5 lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên”.

[5]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý hóa đơn, thuế của nhà nước, gây thất thu cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình phát triển kinh tế, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6]. Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:

[6.1]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đều nộp lại số tiền trốn thuế và thu lời bất chính, trong đó bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T) đã tự nguyện nộp số tiền 1.809.359.200đ khắc phục hậu quả, Nguyễn Thị Như L nộp lại số tiền thu lời bất chính 240.460.900đ, Lê Thị H nộp lại 105.958.700đ, Nguyễn Huy T1 giao nộp lại số tiền 190.000.000đ (còn lại 106.969.132đ), nên tất cả các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6.2]. Ngoài ra bị cáo Đặng Thị Vân A có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng nhì, ông ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng ba; bản thân gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, một mình nuôi ba con nhỏ (con nhỏ nhất sinh năm 2020), là lao động duy nhất trong gia đình (chồng bị cáo Nguyễn Bá H2 hiện đang phải chấp hành hình phạt tù tại Trại tạm giam Vĩnh Phúc); bị cáo T1 có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến công Hạng nhất, Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Hạng ba, do đó bị cáo Vân A và bị cáo T1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[7]. Xét nhân thân, vị trí vai trò của các bị cáo:

[7.1]. Đối với bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T), là Giám đốc điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty H10, là người chỉ đạo mua, sử dụng 21 hóa đơn GTGT khống để hạch toán hàng hóa đầu vào, kê khai trốn thuế do đó cần xử lý nghiêm mới đảm bảo tác dụng đấu tranh phòng ngừa. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người nước ngoài (Quốc tịch Trung Quốc) có nhân thân tốt, lần đầu tiên vi phạm và bị xử lý, bị cáo đã giao nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế. Ngoài ra Công ty H10 do bị cáo T điều hành đã giải quyết, tạo công ăn việc làm cho rất nhiều người lao động Việt Nam tại địa phương (Theo đại diện của Công ty H10, hiện Công ty đang sử dụng 200 lao động tại địa phương).

[7.2]. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn tại Trại giam là không cần thiết. Bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T) được thuê điều hành Công ty H10 thời gian dài, bị cáo có mức thu nhập cao, trung bình khoảng 42.000.000đ/1 tháng (Công ty H10 cung cấp Hợp đồng lao động, Bảng kê trả lương hàng tháng). Ngoài ra Tổng Giám đốc Công ty H10 là ZHANG XIAOFENG (TRƯƠNG HIỂU PHONG) cam kết, nếu bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng và được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, sẽ tạo điều kiện về công việc, thu nhập ổn định để chấp hành việc nộp phạt (thực tế bị cáo sử dụng tiền cá nhân khắc phục toàn bộ hậu quả). Trong trường hợp này đánh giá công việc, thu nhập, ý kiến đề nghị của Tổng giám đốc Công ty H10 thấy rằng, bị cáo có khả năng thi hành, do vậy Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T).

[7.3]. Đối với bị cáo Lê Thị H và bị cáo Đặng Thị Vân A thực hiện hành vi phạm tội theo sự chỉ đạo của bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T), sau khi được bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T) yêu cầu tìm mua hóa đơn, bị cáo Vân A do không biết ai bán hóa đơn nên nhờ bị cáo H tìm mua hộ, bị cáo H đã liên hệ nhờ bị cáo T1 tìm mua, sử dụng 21 hóa đơn GTGT khống để hạch toán hàng hóa đầu vào, kê khai trốn thuế; bị cáo H được hưởng lợi số tiền 105.958.700đ. Bị cáo H và bị cáo Vân A phạm tội với vai trò đồng phạm, sau khi bị phát hiện quá trình điều tra bị cáo H đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; trong khi đó bị cáo Vân A chỉ là người làm thuê, làm công ăn lương, bị cáo Vân A không được hưởng bất kỳ khoản tiền gì.

Bị cáo H và bị cáo Vân A trước khi phạm tôi có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được hưởng rất nhiều tình tiết giảm nhẹ, có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, vì vậy không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù tại Trại giam, mà cho các bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo cũng đủ tác dụng giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

[7.4]. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Như L là người chủ mưu trong việc bán trái phép hóa đơn; bị cáo là người thành lập, mua lại và điều hành 3 công gồm Công ty T7, Công ty Đ2 và Công ty T6, thực chất đây là 3 công ty “ma”, do các công ty này không có hoạt động kinh doanh, bị cáo L điều hành 3 công ty này mục đích xuất bán khống hóa đơn cho người có nhu cầu mua.

[7.5]. Ngoài việc bán trái phép 21 hóa đơn cho Công ty H10, bị cáo còn bán trái phép 609 hóa đơn cho 55 công ty, đơn vị (có danh sách kèm theo) và hưởng lợi tổng số tiền 240.460.895đ. Bị cáo L đã bán trái phép hóa đơn trong thời gian dài, số lượng lớn và bán cho rất nhiều tổ chức cá nhân, gây thất thu ngân sách nhà nước và ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh. Với tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội thấy rằng, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo L là cần thiết, nhằm đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung và giáo dục riêng. Tuy nhiên trước khi phạm tội bị cáo L có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, bản thân bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, một mình nuôi con nhỏ, bị cáo đã khắc phục nộp lại toàn bộ số tiền thu lời bất chính, do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[7.6]. Đối với bị cáo Nguyễn Huy T1: Vì hám lợi nên sau khi bị cáo H nhờ hỏi mua hóa đơn GTGT hộ, bị cáo đã liên hệ hỏi mua của bị cáo L và được hưởng lợi số tiền 296.969.132đ. Bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, sau khi bị phát hiện, quá trình điều tra bị cáo đã nộp lại số tiền 190.000.000đ thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được hưởng rất nhiều tình tiết giảm nhẹ, có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, vì vậy không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù tại Trại giam, mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo cũng đủ tác dụng giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T) bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung. Các bị cáo H, Vân A, L, T1 có hoàn cảnh khó khăn, công việc thu nhập không ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo khoản 3 Điều 200 và khoản 3 Điều 203 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

[9]. Đối với một số cá nhân, tổ chức khác:

[9.1]. Quá trình điều tra đã xác định bị cáo L đã sử dụng 03 công ty (Công ty T6, Công ty Đ2 và Công ty T7) xuất 66 hóa đơn khống cho 14 công ty, đơn vị thuộc Bộ Q. Cơ quan an ninh điều tra đã chuyển thông tin liên quan đến 14 công ty, đơn vị thuộc Bộ Q cho Cục điều tra hình sự Bộ Q tiếp tục xử lý giải quyết, do đó không xem xét, xử lý trong vụ án này.

[9.2]. Đối với 10 công ty sử dụng trên 10 hóa đơn GTGT hoặc thuế GTGT trên 100 triệu đồng, bị cáo L không nhớ tên, tuổi, địa chỉ của những người mua hóa đơn. Kết quả làm việc với 10 công ty khẳng định có mua hàng hóa thật, đúng với số lượng, giá trị ghi trên hóa đơn GTGT của 03 công ty do L điều hành, thông qua người giới thiệu là nhân viên bán hàng của các công ty này, trong đó đại diện một số công ty còn nhớ tên người bán hàng nhưng đều không biết rõ họ tên đầy đủ, địa chỉ của những người này, chưa xác định được nhân thân, lai lịch của những người này. Cơ quan An ninh điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[9.3]. Đối với 31 công ty sử dụng dưới 10 hóa đơn và thuế GTGT dưới 100 triệu đồng, đại diện 31 công ty và người có liên quan đều khẳng định có mua hàng hóa từ những người tự nhận là nhân viên bán hàng của Công ty T6, Công ty T7 và Công ty Đ2 với chủng loại, số lượng và giá trị đúng theo nội dung ghi trên hóa đơn, nhận thấy các công ty sử dụng số lượng dưới 10 hóa đơn và số tiền thuế GTGT dưới 100 triệu đồng không cấu thành tội Mua bán trái phép hóa đơn hoặc tội Trốn thuế. Cơ quan an ninh điều tra đã có văn bản gửi cơ quan thuế danh sách hóa đơn liên quan đến 31 công ty để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

[9.4]. Đối với Z (Trương Hiểu P1) là người đại diện theo pháp luật của Công ty H10 và Đỗ Việt D1: Trương Hiểu P1 cùng Đỗ Việt D1 thành lập Công ty H10, Trương Hiểu P1 đã thuê Lei S (Lôi Thế T) quản lý điều hành việc kinh doanh, mua bán hàng hóa, kê khai thuế, sử dụng hóa đơn của công ty H10. Bản thân ZHANG XIAOFENG (Trương Hiểu P1) không biết việc công ty mua hàng hóa không có hóa đơn và Lei S (Lôi Thế T), Lê Thị H và Đặng Thị Vân A tự mua hóa đơn khống hợp thức chứng từ đầu vào, kê khai trốn thuế nên không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với Z (Trương Hiểu P1). Đối với Đỗ Việt D1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty H10 từ tháng 8/2020 đến tháng 1/2024, nhưng thực tế không điều hành việc mua bán hàng hóa, kê khai thuế, sử dụng hóa đơn của công ty. D1 không chỉ đạo, không tham gia mua bán trái phép hóa đơn nên không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với D1.

[9.5]. Đối với những người được nhờ nhận tiền qua tài khoản sau đó đổi sang tiền mặt, hoặc làm dịch vụ đổi tiền tài khoản sang tiền mặt gồm: Quách Bân M2, Trương Kiến P2, Trương Tự H7, Nguyễn Ngọc H6, Trần Thị Kim X, Tô Thị M3, Hà Thị Ngọc T4 nêu trên. Quá trình điều tra xác định những người này không biết tiền chuyển vào tài khoản là tiền hợp thức mua bán trái phép hóa đơn, không tham gia và không hưởng lợi gì từ việc mua bán trái phép hóa đơn nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[9.6]. Đối với Đỗ Thị H5: Năm 2019, Quách Bân M2 có nhờ H5 mở tài khoản Ngân hàng TMCP K1 (T8) số 19036492793014 đứng tên H5, để Quách Bân M2 sử dụng mua bán gỗ tại Việt Nam, H5 không sử dụng và giao dịch tài khoản này nên không có căn cứ để xem xét, xử lý. Đối với Vũ Duy A1 là người yêu của Nguyễn Thị Như L, khi gặp nhau, L có nhờ A1 nhận hộ tiền qua tài khoản. Sau khi nhận được tiền, Anh đăng nhập vào tài khoản ngân hàng sau đó cho L mượn điện thoại để chuyển tiền. Bản thân A1 không biết L chuyển tiền hợp thức mua bán trái phép hóa đơn cho công ty H10, không tham gia mua bán trái phép hóa đơn, nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[9.7]. Đối với Nguyễn Thanh T3 (đứng tên người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ2): T3 không thành lập, điều hành và không liên quan gì đến hoạt động của công ty Đ2. T3 không biết ai sử dụng thông tin cá nhân của T3 để đăng ký thành lập công ty Đ2 nên không có căn cứ để xem xét, xử lý. Đối với Cà Thị D2 (đứng tên người đại diện theo pháp luật của Công ty T7): Dung không thành lập, điều hành và không liên quan gì đến hoạt động của Công ty T7. D2 không biết ai sử dụng thông tin cá nhân của D2 để đăng ký thành lập Công ty T7 nên không có căn cứ để xem xét, xử lý. Đối với Nguyễn Văn T2 (người đại diện theo pháp luật của Công ty N3 sau đổi tên thành công ty T6). Sau khi T2 thành lập Công ty N3 thì không phát sinh hoạt động sản xuất, nên T2 có nhờ L làm thủ tục chuyển nhượng Công ty N3 cho người khác, Lý tự đổi tên công ty T6, anh T2 không liên quan gì đến hoạt động của Công ty T6, không biết L sử dụng Công ty T6 để bán trái phép hóa đơn nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[9.8]. Đối với đối tượng “Hoa” (người bán trái phép hóa đơn đầu vào cho Nguyễn Thị Như L. Quá trình điều tra đến nay chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của H8. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Đối với những người liên hệ mua trái phép hóa đơn của Nguyễn Thị Như L xuất về 55 công ty, đơn vị nêu trên. Quá trình điều tra đến nay chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của những người này. Qua làm việc với 55 công ty, đơn vị đều khẳng định có mua hàng hóa thật của 03 công ty do L quản lý điều hành thông qua người giới thiệu là nhân viên bán hàng của 03 công ty này, không rõ người bán hàng là ai, ở đâu, quá trình điều tra chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của những người bán hàng này. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[9.9]. Đối với Pháp nhân thương mại Công ty H10: Tổng Giám đốc, người đại diện trước pháp luật, góp vốn của công ty không biết, không tham gia mua bán trái phép hóa đơn nên không có căn cứ để truy cứu hình sự đối với pháp nhân thương mại. Đối với pháp nhân thương mại là Công ty T6, Công ty T7 và Công ty Đ2: Kết quả điều tra xác định Nguyễn Thị Như L lợi dụng pháp nhân của các công ty trên để thực hiện hành vi mua bán hóa đơn vì lợi ích cá nhân, không vì lợi ích chung của các Công ty. Cơ quan điều tra đã truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân vi phạm nên không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.

[10]. Đối với việc bị cáo Lôi Thế T tự nguyện giao nộp số tiền 1.809.359.200₫ để khắc phục số tiền trốn thuế của Công ty H10, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì đối với số tiền này, không yêu cầu Công ty hoàn trả số tiền này, do vậy Hội đồng xét xử không xét.

[11]. Về vật chứng:

[11.1]. Đối với 630 Hóa đơn GTGT ghi khống của Công ty Đ2, Công ty T7 và Công ty T6 mà Cơ quan an ninh điều tra đã tạm giữ là vật chứng của vụ án được lưu hồ sơ. Đối với 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng, 01 USB token của Công ty T7, 01 USB token của Công ty T6, 02 quyển séc của Công ty T7 mà cơ quan điều tra đã thu giữ của L. Kết quả điều tra xác định chiếc điện thoại của L sử dụng vào việc phạm tội do vậy cần tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước. Trả lại cho L 01 USB token của Công ty T7, 01 USB token của Công ty T6, 02 quyển sec của Công ty T7.

[11.2]. Đối với số tiền 1.809.359.200đ bị cáo Lôi Thế T tự nguyện giao nộp để khắc phục số tiền trốn thuế, số tiền thu lợi bất chính 240.460.900đ bị cáo L giao nộp; số tiền thu lợi bất chính 190.000.000₫ bị cáo T1 giao nộp và số tiền 105.958.700đ bị cáo H6 giao nộp. Đây là số tiền các bị cáo vi phạm pháp luật mà có nên tịch thu, sung ngân sách Nhà nước. Truy thu buộc Nguyễn Huy T1 nộp lại số tiền 106.969.132đ mà T1 thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.

[12]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo: Lei Shi C (Lôi Thế T), Lê Thị H và Đặng Thị Vân A phạm tội “Trốn thuế”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Như L và bị cáo Nguyễn Huy T1 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.

  1. Về hình phạt chính:
    • - Áp dụng khoản 3 Điều 200; điểm b, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 35, 58 của Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T) số tiền 1.600.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
    • - Áp dụng khoản 3 Điều 200; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Lê Thị H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Áp dụng khoản 3 Điều 200; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Đặng Thị Vân A 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Như L 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
    • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T1 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao các bị cáo: Lê Thị H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, Thành phố Hà Nội; bị cáo Đặng Thị Vân A cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; bị cáo Nguyễn Huy T1 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, Thành phố Hà Nội, nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Trả lại Nguyễn Thị Như L 01 USB token và 02 quyển séc của Công ty TNHH T7, 01 USB token của Công ty TNHH T6.
    • - Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng có số Imei 351143348390413, 351143347943980.
    • - Tịch thu, sung ngân sách đối với số tiền 2.345.778.800đ là tiền các bị cáo tự nguyện giao nộp, trong đó bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T) giao nộp 1.809.359.200₫ để khắc phục số tiền trốn thuế; bị cáo Nguyễn Thị Như L giao nộp 240.460.900đ, bị cáo Nguyễn Huy T1 giao nộp 190.000.000đ và bị cáo Lê Thị H giao nộp số tiền 105.958.700đ. Đây đều là số tiền các bị cáo vi phạm pháp luật mà có.
    • (Số tiền 2.345.778.800đ hiện đã được chuyển đến tài khoản của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc, tại Phòng G, Kho bạc nhà nước Khu vực V).
    • - Truy thu buộc Nguyễn Huy T1 nộp lại số tiền 106.969.132đ mà T1 thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.

    Vật chứng và tiền nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 03 tháng 6 năm 2025.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lei Shi C (Lôi Thế T), Lê Thị H, Đặng Thị Vân A, Nguyễn Thị Như L và Nguyễn Huy T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.

Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Quang BằngNguyễn Xuân Trọng
Đỗ Thị Kim Thuý

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh phúc;
  • - Phòng Hồ sơ - CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng HS - CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hà Nội;
  • - UBND xã Chu Phan, xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh;
  • - UBND p. Khai Quang, Tp. Vĩnh Yên;
  • - UBNKT huyện ủy Mê Linh;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Phòng HC-TP, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Trọng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (trốn thuế và mua bán trái phép hóa đơn)

  • Số bản án: 85/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trốn thuế và Mua bán trái phép hóa đơn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên các bị cáo phạm tội trốn thuế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger