TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2025/HS-ST Ngày: 19/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Quang Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hồng Tươi
- Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Xuân Vinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T- Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không có.
Sinh ngày 26 tháng 7 năm 1993, tại: P, Gia Lai.
Nơi ĐKTT: 36/97 K, Tổ G, phường T, tỉnh Gia Lai.
Chỗ ở hiện nay: Tổ G, khu phố G A, đặc khu P, tỉnh An Giang.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 9/12.
Cha: Phạm Văn T1 (chết). Mẹ: Lý Thị M (sống).
Anh ruột: 03 người (lớn nhất 1988, nhỏ nhất 1992)
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2025.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 18/6/2025, có người tên B (chưa rõ nhân thân) gọi liên hệ qua điện thoại với Phạm Văn T, hỏi T có mua ma tuý về sử dụng không thì T đồng ý. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68MA-018.33 của T chạy đến điểm hẹn tại khu vực cây xăng T2, thuộc khu phố G, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố G A, đặc khu P, tỉnh An Giang) mua của B 01 đoạn ống hút nhựa chứa ma túy với giá 2.300.000 đồng cất giấu trong túi quần đang mặc để sử dụng. Sau đó T điều khiển xe mô tô đến quán nước gần cây xăng T2 cũng thuộc khu phố G, phường A ngồi uống nước. Đến khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4 kiểm tra, phát hiện T đang cất giấu 01 đoạn ống hút nhựa bên trong có chứa ma túy nên lập biên bản bắt quả tang. Ngày 24/6/2025, Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển 4 khởi tố vụ án chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh K. Ngày 25/6/2025, Phạm Văn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K khởi tố, tạm giam để điều tra.
* Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- 01 ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, kích thước là 6,4cm x 02cm, bên trong có chứa các hạt tỉnh thể rắn, màu trắng không đồng nhất.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu REALME NOTE 50, màu đen, IMEII: 861421073960839, IMEI2: 861421073960821, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Espero (Dán nhãn YAMAHA SIRIUS), màu xám xanh, biển kiểm soát: 68MA-018.33, số khung: RPEKCB3PEJA337160, số máy: VDEJQ139FM 2337160, đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số: 694/KL-KTHS ngày 21/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh K (nay là tỉnh An Giang), kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 01 ống nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine khối lượng mẫu gửi giám định là 2,5046gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số: 694/KL-KTHS ngày 21/6/2025 của Phòng K - Công an tỉnh K.
Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKSKV2 ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Phạm Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định gồm:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 2,3731gam, được đựng trong một bịch nylon và bao gói, vật đựng mẫu được niêm phong trong một hộp giấy có ký hiệu vụ 725/2025.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 (một) xe mô hiệu Espero (Dán nhãn YAMAHA SIRIUS) màu xám xanh, biển kiểm soát: 68MA-018.33, số khung RPEKCB3PEJA337160, số máy: VDEJQ139FMB-2337160.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu REALME NOTE 50, màu đen, IMEII: 861421073960839, IMEI2: 861421073960821, đã qua sử dụng.
Đối với người thanh niên tên B chưa rõ nhân thân đã bán ma tuý cho Phạm Văn T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A đang tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án để sớm về lo cho con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Ma tuý là tang vật trong vụ án bị thu giữ.
Từ đó có đủ cơ sở xác định ngày 18/06/2025, Phạm Văn T liên lạc với người thanh niên tên B (chưa rõ nhân thân) để mua 2.300.000 đồng ma tuý. Sau khi lấy được một đoạn ống hút chứa ma tuý, T cất giấu ma tuý trong túi quần đang mặc để sử dụng. Khi T đang ngồi uống nước tại quán nước gần cây xăng T thuộc Khu phố G phường A thì bị cán bộ điều tra thuộc Bộ bắt quả tang T đang cất giấu một đoạn ống hút chứa ma tuý trong túi quần đang mặc. Qua giám định, chất ma tuý T cất giấu là Methamphetamine có khối lượng 2,5046 gam. Đây là hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, có mức án từ 01 năm đến 05 năm tù.
[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo nhận thức được ma tuý là loại độc dược được Nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý đều bị nghiêm cấm. Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng lại cố ý thực hiện tàng trữ ma tuý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5]. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 2,3731gam, được đựng trong một bịch nylon và bao gói, vật đựng mẫu được niêm phong trong một hộp giấy c ký hiệu vụ 725/2025.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 (một) xe mô hiệu ESPERO (Dán nhãn YAMAHA SIRIUS) màu xám xanh, biển kiểm soát: 68MA-018.33, số khung RPEKCB3PEJA337160, số máy: VDEJQ139FMB-2337160 do bị cáo sử dụng để đi mua ma tuý.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu REALME NOTE 50, màu đen, IMEII: 861421073960839, IMEI2: 861421073960821, do bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma tuý.
[6]. Đối với thanh niên tên B chưa rõ nhân thân đã bán ma tuý cho Phạm Văn T, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A đang tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
[7]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang đề nghị về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Phạm Văn T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2025.
3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 2,3731gam, được đựng trong một bịch nylon và bao gói, vật dựng mẫu được niêm phong trong một hộp giấy c ký hiệu vụ 725/2025.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- + 01 (một) xe mô hiệu ESPERO (Dán nhãn YAMAHA SIRIUS) màu xám xanh, biển kiểm soát: 68MA-018.33, số khung RPEKCB3PEJA337160, số máy: VDEJQ139FMB-2337160, đã qua sử dụng.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu REALME NOTE 50, màu đen, IMEII: 861421073960839, IMEI2: 861421073960821, đã qua sử dụng.
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Phòng thi hành án Dân sự khu vực 2 – An Giang theo Biên bản giao nhận vật chứng số ngày 20/10/2025 Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Quang Thanh |
Bản án số 85/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 85/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm văn T thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý
