Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LIÊN CHIỂU

TP ĐÀ NẴNG

-*-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

*----------*

Bản án số:85/2025/HS-ST

Ngày 07 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn C.
  2. Ông Vũ Ngọc Thanh

Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Duy T1 - Cán bộ T2 án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa : Bà Trần Thị Ngọc H - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân phường H – Địa chỉ: C T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2025/TLST-HS ngày 18.4.2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2025/QĐXX-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

* Nguyễn Văn H1 - Sinh ngày 24.10.1996 tại Đà Nẵng – Nơi ĐKHKTT : TỔ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng – Trú tại : A T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng - Quốc tịch : Việt Nam – Dân tộc : Kinh – Tôn giáo : Không - Nghề nghiệp: Không – Trình độ văn hóa : 3/12.

Con ông: Nguyễn Văn H2 (c) và bà Nguyễn Thị Thu T3 (s).

Tiền án:

  • Ngày 31.10.2018 bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 07 năm 06 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 57/2018/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15.12.2023.

Tiền sự: Không.

Nhân thân :

  • Ngày 03.7.2017 bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 35/2017/QĐ-TA.
  • Ngày 04.5.2017 bị Công an phường H, quận L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 166/2017/QĐ.
  • Ngày 06.6.2016 bị UBND phường H, quận L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường trong thời hạn 03 tháng theo Quyết định số 266/2016/QĐ. Ngày 06.9.2016, bị cáo chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06 tháng 1 năm 2025, hiện có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Trần Thị T4 – Sinh năm 1977 – Nơi ĐKHKTT : Tổ D, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng – Trú tại : A T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
  • Bà Trần Thị C1 – Sinh năm 2000 – Nơi ĐKHKTT : Thôn R, J, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam – Trú tại : A N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10h30 phút ngày 06.1.2025, tại nhà trọ số A T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L phối hợp với Công an phường H tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn H1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ bên trong tủ đựng quần áo ở phòng trọ 01 hộp sắt màu xanh bên ngoài có ghi chữ Doublemint, bên trong có 01 gói Nylon có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, gắn sim số 0799.027.629.

Ngày 22.1.2025, Phòng K Công an thành phố Đ đã ban hành kết luận giám định số 96/KL-KTHS xác định : Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu a : 1,048 gam.

Quá trình điều tra, từ lời khai nhận của Nguyễn Văn H1 và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, đủ cơ sở xác định : Vào khoảng 23h30 phút ngày 05.1.2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn H1 đã liên lạc với tài khoản Z mang tên “Lâm Huỳnh Ng” của một thanh niên tên Đ (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 1.000.000đ tiền ma túy đá. Sau đó, H1 bắt xe G đến đầu đường P, quận S, thành phố Đà Nẵng để gặp Đ lấy ma túy. H1 đưa cho Đ số tiền mặt 1.000.000đ. Sau khi lấy ma túy thì H1 về lại phòng trọ ở địa chỉ số A T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng và sử dụng một ít ma túy, số ma túy còn lại thì cất giấu trong tủ quần áo để tiếp tục sử dụng. Đến ngày 06.1.2025 thì H1 bị công an kiểm tra hành chính và phát hiện số ma túy đã cất giữ như đã nêu trên. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Văn H1 cho kết quả dương tính với chất ma túy.

Bị cáo Nguyễn Văn H1 đã bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án hình sự sơ thẩm số 57/HSST. Đến ngày 15.12.2023, H1 chấp hành xong hình phạt tù. Do đó, tính đến thời điểm phạm tội, H1 chưa được xóa án tích nên đây được xem là tình tiết tăng nặng Tái phạm.

Tang vật thu giữ : Mẫu ma túy còn lại sau giám định được bỏ trong 01 bì giấy ký hiệu A được niêm phong của Phòng K; 01 hộp sắt màu xanh bên ngoài có chữ Doublemint; 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo, màu xanh, gắn sim số 0799.027.629 của Nguyễn Văn H1. Các tang vật đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu để tiếp tục tạm giữ, chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 17.04.2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Nguyễn Văn H1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, không oan.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị :

  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Áp dụng điểm c, khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 02 ( Hai ) năm đến 03 ( Ba ) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Về xử lý vật chứng : Đề nghị HĐXX căn cứ điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS:
    • - Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong ( Ký hiệu A).
    • - Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 hộp sắt màu xanh bên ngoài có chữ Doublemint
    • - Tuyên tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo, màu xanh, gắn sim số 0799.027.629 của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau :

1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy : Bị cáo Nguyễn Văn H1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau :

Vào lúc 10h30 phút ngày 06.1.2025 tại nhà trọ số A T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L phối hợp với Công an phường H tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn H1 có hành vi tàng trữ trái phép 1,048 gam chất ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 07 năm 06 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 57/2018/HSST ngày 31.10.2018. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15.12.2023, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó hành vi phạm tội lần này của Nguyễn Văn H1 thuộc trường hợp tái phạm.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình tranh luận tại phiên tòa.

Do đó HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

3. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H1 thì thấy :

Hiện nay, thành phố Đà Nẵng đang xây dựng mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội, trong đó phòng chống ma túy là một trong những nội dung trọng điểm cần thiết thực hiện ngay. Bên cạnh những tác hại nặng nề của ma túy đã và đang hủy hoại sức khỏe của con người, có ảnh hưởng quá lớn đến cộng đồng, mà đây còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Chính vì vậy, công tác đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm về ma túy được xem là một trong những chiến lược lâu dài của các cơ quan tư pháp. Do đó, đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn H1, HĐXX thấy cần xử phạt một mức án tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo.

4. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt thì thấy:

Tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người...) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn H1 là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị, biết hành vi của mình có thể để lại hậu quả nghiêm trọng cho người khác và xã hội, xâm phạm đến các mối quan hệ được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi cất giấu bất hợp pháp 1,048 gam chất ma túy Methamphetamine tại nơi ở của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, bị Công an phường H, quận L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và bị UBND phường H, quận L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường trong thời hạn 03 tháng. Tuy nhiên những hình phạt áp dụng đối với bị cáo cho đến nay vẫn không có hiệu quả và không làm cho bị cáo chấm dứt việc vi phạm pháp luật mà hành vi của bị cáo được thực hiện ngày càng hết sức liều lĩnh, tinh vi đã thể hiện tính coi thường pháp luật của Nhà nước và gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra, ngày 31.10.2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 07 năm 06 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 57/2018/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15.12.2023, cho đến nay vẫn chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại điểm c khoản 2 điều 70 Bộ luật hình sự về Đương nhiên được xóa án tích quy định :" ...c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm..”. Như vậy, trường hợp này của bị cáo Nguyễn Văn H1 được xem là tái phạm “Đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý” theo quy định tại khoản 1 điều 53 Bộ luật hình sự. Do đó HĐXX căn cứ theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự “...h. Tái phạm... ” để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn H1 là đúng căn cứ pháp luật.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn H1 có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải. Vì vậy, HĐXX cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo khi lượng hình nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

5. Về xử lý vật chứng : Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xử lý như sau :

  • Đối với 01 bì giấy niêm phong đựng mẫu hoàn trả sau giám định ma túy của Phòng K Công an thành phố Đ, ký hiệu A là ma túy hoàn trả lại sau khi giám định, HĐXX xét thấy đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự nên cần thiết tuyên tịch thu và tiêu huỷ.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh có gắn thẻ sim 0799027629. Quá trình điều tra, bị cáo H1 sử dụng điện thoại này để mua ma túy, liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy cần thiết tuyên tịch thu sung công quỹ là phù hợp quy định của pháp luật.
  • 01 hộp sắt màu xanh bên ngoài có chữ Doublemint. HĐXX xét thấy đây là những vật chứng bị cáo H1 sử dụng trong việc thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, không có giá trị nên cần áp dụng điểm a, c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu hủy.

Các tang vật này hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 13.5.2025 và Quyết định chuyển vật chứng số 35/QĐ-VKS ngày 17.4.2025.

Ngày 06.1.2025, khi bị phát hiện bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm và xác định Nguyễn Văn Hải dương T5 với chất ma túy. Do đó, ngày 20.1.2015 Công an quận L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 41, hình thức phạt tiền 1.500.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy đối với H1 là có cơ sở nên không đề cập đến.

Ngoài ra, trong vụ án có nam thanh niên tên Đ đã bán ma túy cho Nguyễn Văn H1 hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau là có căn cứ, nên HĐXX không đề cập đến.

Đối với bà Trần Thị T4 là chủ sở hữu căn nhà trọ tại địa chỉ A T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng và bà Trần Thị C1 là người cùng thuê ở chung phòng trọ với Nguyễn Văn H1. Tuy nhiên, bà T4 và bà C1 không biết Nguyễn Văn H1 tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà trọ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Liên Chiểu không xử lý là có căn cứ. Do đó HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án này là có cơ sở.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn H1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    - Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 02 ( Hai ) năm 06 ( S ) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy“. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giam 06.1.2025.

  2. Căn cứ khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự.

    Tuyên xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn H1 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

  3. Về xử lý tang vật : Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy hoàn trả lại sau giám định được niêm phong đựng mẫu hoàn trả ( Ký hiệu A ) của Phòng K Công an thành phố Đ.
    • - Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 hộp sắt màu xanh bên ngoài ghi chữ Doublemint.
    • - Tuyên tịch thu sung công quỹ của bị cáo Nguyễn Văn H1 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh có gắn thẻ sim 0799027629.

    Các tang vật này hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 13.5.2025 và Quyết định chuyển vật chứng số 35/QĐ-VKS ngày 17.4.2025.

  4. Về án phí : Căn cứ khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Văn H1 phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Đà Nẵng;
  • - VKSND TP.Đà Nẵng;
  • - Phân trại tạm giam khu vực L;
  • - Chi cục THS DS quận L
  • - VKSND quận Liên Chiểu;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Ánh Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HS-ST ngày 07/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 85/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyễn Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger