|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:85/2025/HS-ST Ngày 06/06/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Ngọc Nga – Bà Hoàng Thị Kim Phượng
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi - Thư ký viên chính Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2025/HS-ST ngày 29/04/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST-HS ngày 23/05/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Văn B, sinh năm: 2000, tại Ninh Bình. Nơi cư trú: số nhà E, ngõ A, đường T, phố B, phường T, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa lớp: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mai Văn H và con bà: Trịnh Thị T. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 23/12/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Phạm Văn C, sinh năm: 1986
- Trú tại: xóm I, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- - Anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm: 1988
- Trú tại: xóm T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- - Công ty TNHH T6.
- Địa chỉ: khu đô thị M, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.
- Người đại diện: Ông Phạm Tuấn A, sinh năm 1980 – Cán bộ đội xe
3.Người làm chứng:
- - Anh Trần Đức L, sinh năm: 1995
- - Anh Vũ Mạnh H1, sinh năm: 1984
- - Anh Phạm Văn T2, sinh năm 1992
4 Người chứng kiến:
- - Anh Phạm Đức T3, sinh năm: 1985
- - Ông Trịnh Hồng S, sinh năm: 1948. Có mặt.
- - Ông Lương Văn T4, sinh năm: 1965
(Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến là anh T3, ông T4 đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 10 phút ngày 17/12/2024, tổ công tác thuộc Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - kinh tế Công an tỉnh N làm việc nhiệm vụ tại khu vực cánh đồng thuộc thôn Đ, xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình phát hiện đối tượng Phạm Văn C, sinh năm 1986, nơi cư trú: xóm I, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình đang sử dụng trái phép chất ma tuý. Phạm Văn C khai nhận nguồn gốc số ma tuý đang sử dụng là mua của Mai Văn B ở phố B, phường T, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, C khai mua 1 túi ma tuý loại Ketamine và 1 túi ma tuý kẹo với giá 2.300.000đ, 02 viên ma tuý tổng hợp loại kẹo C đã làm rơi trên đường đi tìm nơi sử dụng ma tuý, đối tượng bán ma tuý cho C là nam giới tên là B, sau khi bán xong có lên xe taxi T6 biển kiểm soát 35E-00340. Tổ công tác đã thu giữ và niêm phong một tờ tiền 5.000đ còn bám dính tinh thể mầu trắng và dụng cụ sử dụng ma tuý vào phòng bì niêm phong sau đó đưa Phạm Văn C cùng vật chứng, đồ vật, phương tiện và mời người làm chứng về trụ sở công an xã N, huyện H để lập biên bản. Phạm Văn C khai nhận mua ma tuý của Mai Văn B 02 lần, lần 1 vào ngày 13/12/2024 và lần 2 là ngày 17/12/2024. Cả hai lần C dùng điện thoại di động Samsung màu trắng lắp sim số 0812.579.094 của mình để quay lại quá trình mua bán ma túy với B.
Trên cơ sở lời khai của đối tượng Phạm Văn C, ngày 17/12/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh N đã tiến hành truy xét đối với Mai Văn B, khi đi đến đường vành đai thuộc xã N, thành phố N thì phát hiện xe ô tô taxi T6 màu xanh, biển kiểm soát 35E-003.40 đang dừng bên phải đường và có một người thanh niên đang đứng cạnh cửa ghế phụ. Tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra, người thanh niên khai tên là Mai Văn B còn người lái xe khai tên là Trần Đức L. Tại đây, Mai Văn B
tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon bên trong có ma túy Ketamine kích thước (2 x 3)cm được gói ngoài bằng tờ tiền 2.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng, lắp sim số 0915.479.071; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, lắp sim số 0913.033.801 và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng. Mai Văn B khai mang ma tuý theo người nhằm mục đích bán kiếm lời và khi cần thì sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong các vật chứng trên theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của Trần Đức L 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Soluto, màu xanh, biển kiểm soát 35E-003.40 cùng giấy chứng nhận kiểm định và bản sao công chứng đăng ký xe mang tên Công ty TNHH T6, giấy phép lái xe mang tên Trần Đức L, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, lắp sim số 0941.879.156. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh N thi hành Lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Mai Văn B.
Căn cứ tài liệu điều tra, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 687/KLX-CSMT đối với người, chỗ ở của Mai Văn B tại số nhà S, ngõ A, đường T, phố B, phường T, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Thu giữ tại gầm giường ngủ tầng hai của B:
- + 01 lọ nhựa màu xám đen có chữ nước ngoài màu trắng, bên trong có: 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước (7,5 x 5)cm, 02 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước (2 x 2,5)cm, 03 gói nilon màu trắng viền màu xanh kích thước (3 x 3)cm đều chứa chất tinh thể màu trắng. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX1.
- + 01 hộp kim loại hình lục lăng màu xanh trắng kích thước (5,5 x 10) cm có chữ nước ngoài bên trong hộp có: 01 túi nilon màu trắng miệng viền màu đỏ kích thước (8 x 5)cm bên trong có 15 viên nén màu xám hình chữ nhật kích thước (1 x 0,5)cm trên mặt mỗi viên nén có hình chữ R, được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX2.
- + 01 cân điện tử màu trắng kích thước (6 x12)cm.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng trong 01 gói được gói ngoài bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng mà Mai Văn B đã tự giác giao nộp có khối lượng 0,3466 gam (ký hiệu M1); khối lượng chất tinh thể màu trắng trong 06 gói thu giữ tại nhà của Mai Văn B, có khối lượng 2,9148 gam (ký hiệu M2); khối lượng 15 viên nén màu xám, hình chữ nhật thu giữ tại nhà của Mai Văn B, có khối lượng 8,1574 gam (ký hiệu M3). Sau khi cân chất tinh thể màu trắng và 15 viên nén màu xám, hình chữ nhật, ký hiệu M1, M2, M3 được bỏ vào một túi nilon màu trắng, niêm phong trong phong bì
dán kín, ký hiệu M; 01 tờ tiền 5.000 đồng còn bám dính chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Văn C niêm phong trong phong bì HC1, tất cả được gửi đi giám định để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 56/KL-KTHS-MT ngày 23/12/2024, của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:
- - Chất tinh thể bám dính trên tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng ký hiệu HC1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Lượng Ketamine bám dính ít không xác định được khối lượng.
- - Mẫu gửi giảm định ký hiệu M1 có khối lượng 0,3466 gam, là ma túy, loại Ketamine.
- - Mẫu gửi giảm định ký hiệu M2 có khối lượng 2,9148 gam, là ma túy, loại Methamphetamine và Ketamine.
- - Mẫu gửi giám định ký hiệu M3 có khối lượng 8,1574 gam, là ma túy, loại MDMA.
Methamphetamine là chất ma túy có số thứ tự 247, thuộc bảng Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính P),
Ketamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ),
MDMA là chất ma túy có số thứ tự 11, thuộc bảng Danh mục IB, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ).
Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm:
- - 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, ký hiệu HC1.
- - Mẫu ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 0,2539 gam, là ma túy, loại Ketamine.
- - Mẫu ký hiệu M2 còn lại có khối lượng 2,8275 gam, là ma túy, loại Methamphetamine và Ketamine.
- - Mẫu ký hiệu M3 còn lại có khối lượng 8,0399 gam, là ma túy, loại MDMA.
Ngày 15/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 256A/QĐ-CSMT, để xác định hàm lượng và khối lượng từng chất Methamphetamine và Ketamine trong mẫu gửi giám định M2.
Tại Kết luận giám định bổ sung số 425/KL-KTHS ngày 07/02/2025, của V1 Bộ C2, kết luận: hàm lượng và khối lượng từng chất Methamphetamine và Ketamine trong 2,8275g còn lại của M ký hiệu M2 (khối lượng ban đầu 2,9148 gam), là 39,77% = 1,124 gam Methamphetamine và 55,47% = 1,568 gam Ketamine.
H2 lại đối tượng giám định: 01 túi nilon chứa 2,749 gam ma túy, loại Methamphetamine và Ketamine và các vỏ bao gói ban đầu.
Quá trình điều tra Mai Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể:
Bản thân là người sử dụng ma túy, loại Ketamine. Để có tiền sử dụng ma túy và tiêu sài cá nhân, Mai Văn B nảy sinh ý định mua ma tuý về bán lại cho những người nghiện để kiếm lời. Ngày 07/12/2024, Mai Văn B thuê xe taxi T6 (nhãn hiệu KIA Soluto, màu xanh), biển kiểm soát 35E-003.40 của anh Trần Đức L, sinh năm 1995, trú tại số nhà G, ngõ H, phố T, phường B, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, đi đến khu vực đường vành đai xã N, thành phố N (nay là phường N, thành phố H), tỉnh Ninh Bình gặp và mua ma túy của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) 01 túi ma túy Ketamine, Methamphetamine với giá 4.000.000 đồng và 01 túi có 19 viên ma túy MDMA với giá 2.500.000 đồng. Tổng số tiền mua ma tuý là 6.500.000đ. Sau đó, Mai Văn B mang số ma túy trên về nhà, sử dụng một phần ma túy Ketamine, số ma túy còn lại Mai Văn B chia thành nhiều gói nhỏ cất giấu trong nhà để có ai hỏi mua thì bán. Trong các ngày 13/12/2024 và 17/12/2024, Mai Văn B đã 02 lần bán ma túy cho Phạm Văn C, sinh năm 1986, trú tại xóm I, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 13/12/2024, Phạm Văn C gọi đến số thuê bao 0915.479.071 của Mai Văn B hỏi mua 1.700.000 đồng ma túy Ketamine và 600.000 đồng hai viên ma túy MDMA; Mai VĂn B đồng ý và yêu cầu C chuyển số tiền 2.300.000 đồng vào số tài khoản 0915479071 của B mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M1) sau đó hẹn gặp tại khu vực cổng đá N thuộc thôn B, xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình để giao ma túy. Do chỉ mang tiền mặt nên C đã nhờ một người đi đường chuyển khoản số tiền 2.300.000 đồng đến tài khoản của B và đưa tiền mặt cho người này. Sau khi nhận được số tiền trên, B thuê xe taxi T6 biển kiểm soát 35E-003.40 của anh Trần Đức L, mang theo 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói ma túy Ketamine và 01 gói chứa 02 viên ma túy MDMA, đi từ nhà đến điểm hẹn. Thấy C đang đứng chờ, B bảo anh L điều khiển xe đi đến gần, lúc này B ngồi ở ghế phụ phía trước xe ô tô, kéo cửa kính xuống đưa cho C 01 túi nilon màu trắng đựng ma túy mà B mang theo trước đó, sau đó đóng cửa kính xe ô tô rồi bảo anh L đi về.
Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17/12/2024, C tiếp tục sử dụng điện thoại di động Samsung màu trắng lắp sim số 0812.579.094 của mình gọi đến điện thoại di động nhãn hiệu Redmi lắp sim số 0915.479.071 của B hỏi mua 1.700.000 đồng ma túy Ketamine và 600.000 đồng hai viên ma túy MDMA; B
đồng ý và bảo C chuyển số tiền 2.300.000 đồng vào số tài khoản 0915479071 của B mở tại Ngân hàng M1 và hẹn gặp tại khu vực cổng đá N thuộc thôn B, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình để giao ma túy. Do chỉ mang tiền mặt nên C đã nhờ một người đi đường chuyển khoản số tiền 2.300.000 đồng đến tài khoản của B, rồi C đưa tiền mặt cho người này. Sau khi nhận được tiền, B lấy 01 gói nilon đựng ma túy loại Ketamine và 01 gói nilon đựng 02 viên ma túy MDMA cho vào trong 01 phong bì thư cầm ở tay phải, đồng thời lấy một ít ma túy Ketamine bỏ vào tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng gói lại, cất giấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc. Sau đó, thuê xe ô tô taxi biển kiểm soát 35E-003.40 của anh Trần Đức L đi đến điểm hẹn để giao ma túy cho C. Thấy C, B kéo cửa kính ghế phụ phía trước xe ô tô xuống, dùng tay cầm 01 phong bì thư đựng ma túy mang theo trước đó đưa cho C rồi kéo cửa kính xe ô tô lên và bảo L đi về.
Lời khai nhận tội của Mai Văn B phù hợp với lời khai của Phạm Văn C và các vật chứng đã thu giữ.
Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 29/04/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố bị cáo Mai Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, p khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Liên quan đến các vật chứng cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã thu giữ và đã được xử lý trong quá trình điều tra:
Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Soluto, màu xanh, biển kiểm soát 35E-003.40 cùng toàn bộ giấy tờ, đăng ký và giấy phép lái xe mang tên Trần Đức L, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, lắp sim số 0941.879.156 thu giữ của Trần Đức L. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe ô tô trên là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH T6, Công ty cũng đã cử người đại diện đến xin lại nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho Công ty. Đối với anh Trần Đức L không biết việc Mai Văn B thuê xe taxi của mình để đi mua, bán ma túy. Vì vậy, cơ quan điều tra đã trả lại giấy chứng nhận kiểm định và bản sao công chứng đăng ký xe mang tên Công ty TNHH T6, giấy phép lái xe mang tên Trần Đức L và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh cho Trần Đức L.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng, lắp sim số 0812.579.094 thu giữ của Phạm Văn C. Quá trình điều tra xác định, chiếc điện thoại trên C mượn của anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1988, trú tại xóm T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (là bạn của C), việc C sử dụng chiếc điện thoại trên vào việc trao đổi mua bán ma túy anh T1 không biết. Anh Phạm Thanh T5 đã có đơn
xin lại và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại chiếc điện thoại di động trên cho anh Phạm Thanh T5.
Về số tiền 4.600.000 đồng Phạm Văn Cường sử dụng để mua ma túy của Mai Văn B. Quá trình điều tra xác định, Mai Văn B đã rút từ tài khoản của mình số tiền 2.300.000 đồng để chi tiêu cá nhân; còn lại số tiền 2.300.000 vẫn trong tài khoản số 0915479071 tại ngân hàng M1 của B. Ngày 10/3/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra đã áp dụng biện pháp phong tỏa số 207/LPT-CSMT đối với số tài khoản trên.
Đối với 0,2539 gam Ketamine, 8,0399 gam MDMA và 2,749 gam loại Methamphetamine và Ketamine hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 điện thoại di động Redmi màu trắng lắp sim số 0915.479.071 và 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu xanh, lắp sim số 0913.033.801 thu giữ của Mai Văn B; 01 thẻ sim điện thoại bằng nhựa cứng màu trắng thu giữ của Phạm Văn C; 01 cân điện tử màu trắng, 01 lọ nhựa màu xám đen, 01 hộp kim loại hình lục lăng màu xanh trắng thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Mai Văn B; Số tiền 12.000 đồng thu giữ của B và số tiền 15.000 đồng thu giữ của C. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã ra quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư để xử lý cùng vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo Mai Văn B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Tại phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hoa Lư vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Mai Văn B, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b, p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt Mai Văn B từ 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 17/12/2024. Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 15.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng.
- - Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS về xử lý vật chứng của vụ án:
- + Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền 3.999.380 là tiền trong tài khoản ngân hàng của bị cáo đang bị phong tỏa (theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 207/LPT-CSMT ngày 10/3/2025); số tiền 2.000 đồng thu giữ của bị cáo, 15.000 thu giữ của anh C; 01 điện thoại Remi màu trắng, trắng lắp sim số 0915.479.071, đây là những tài sản liên quan đến hành vi phạm tội.
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 600.620 đồng là tiền do phạm tội mà có, để sung ngân sách nhà nước.
- + Tịch thu tiêu hủy: 0,2539 gam Ketamine, 8,0399 gam MDMA và 2,749 gam loại Methamphetamine và Ketamine hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 thẻ sim điện thoại bằng nhựa cứng màu trắng; 01 cân điện tử màu trắng, 01 lọ nhựa màu xám đen, 01 hộp kim loại hình lục lăng màu xanh trắng, là những vật chứng thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng.
- + Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, lắp sim số 0913.033.801 và số tiền 10.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo việc thi hành án.
Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Văn B không có ý kiến gì với bản kết luận giám định; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Mai Văn B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến. Như vậy đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 13/12/2024 đến ngày 17/12/2024, tại khu vực cổng đá Ninh Vân thuộc thôn B, xã N, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình bị cáo Mai Văn B đã 02 lần bán trái phép chất ma túy Ketamine và MDMA cho Phạm Văn C cụ thể như sau: Lần thứ nhất: Khoảng 14 giờ 40 ngày 13/12/2024 Mai Văn B đã bán trái phép 01 gói Ketamine và 02 viên ma túy MDMA cho Phạm Văn C với giá 2.300.000 đồng. Lần thứ hai: Khoảng 13 giờ 00 ngày 17/12/2024, Mai Văn B đã bán trái phép 01 gói Ketamine và 02 viên ma túy MDMA cho Phạm Văn C với giá 2.300.000 đồng bị phát hiện bắt giữ. Ngoài ra, bị cáo Mai Văn B còn cất giấu trên người và tại nơi ở của mình 1,9146 gam Ketamine; 1,124 gam Methamphetamine và 8,1574 gam MDMA nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán cho người khác để kiếm lời. Hành vi bán viên ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine 02 lần cho Phạm Văn C của bị cáo Mai V đã cấu thành tội “Mua bán
trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b,p khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma tuý
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- b) Phạm tội 02 lần trở lên;
- i) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
- ...
- p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;
- ...
- 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh các tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn rấn thân vào con đường phạm tội, để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, để có tiền sử dụng ma túy, bị cáo mua ma túy bán lại cho những người khác mục đích kiếm lời lấy tiền mua ma túy sử dụng và phục vụ bản thân. Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc bằng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.
Khi lượng mức hình phạt Hội đồng xét xử cần phải cân nhắc xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị
cáo được áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ nói trên để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hành vi mua bán trái phép chất ma túy mục đích kiếm lời nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[2] Các vấn đề khác:
- - Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Mai Văn B khai mua của một người đàn ông tại khu vực đường vành đai xã N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình nhưng bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh, làm rõ
- - Vật chứng của vụ án: Toàn bộ mẫu vật cơ quan giám định hoàn trả gồm: “ M1 = 0,2539 g là ma tuý loại Ketamine; M2 = 2,749 gam là ma tuý loại Methamphetamine và Ketamine ; M3 = 8,8039 g là ma tuý loại MDMA” đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ; Ngoài ra đối với toàn bộ phong bì, vỏ phong bì niêm phong các vật chứng được ký hiệu: B2; KX1; KX2; A; H; HC2; HC3; HC4; C; L; L1; 07 vỏ túi nilon; 01 lọ nhựa mầu xám đen có chữ nước ngoài mầu trắng, kích thước 12x10cm; 01 hộp kim loại hình lục lăng màu xanh trắng kích thước (5,5 x 10) cm có chữ nước ngoài; 01 cân điện tử màu trắng kích thước (6 x12)cm; 01 thẻ sim điện thoại bằng nhựa cứng màu trắng thu giữ của Phạm Văn C không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng lắp sim số 0915.479.071 và số tiền 2.000đ thu giữ của bị cáo B và 15.000đ thu giữ của Phạm Văn C cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền 4.600.000đ mà Phạm Văn C đã 02 lần nhờ người khác chuyển vào số tài khoản 0915479071 mở tại Ngân hàng M1 của bị cáo Mai Văn B là tiền thu lời bất chính cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Do bị cáo Mai Văn B đã rút 2.300.000đ để chi tiêu cá nhân nên buộc bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước; đối với toàn bộ số tiền 3.999. 380đ còn lại trong tài khoản MB của bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều tra đã áp dụng biện pháp phong tỏa số 207/LPT-CSMT đối với số tài khoản trên cần tiếp tục phong toả để đảm bảo Thi hành án; buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 600.620đ.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo mầu xanh lắp sim số 0913.033.801; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ thu giữ của Mai Văn B là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Đối với các vật chứng khác trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã hoàn trả lại cho chủ sở hữu, không ai có ý kiến gì. Việc trả lại số tài sản trên là đúng pháp luật nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với Phạm Văn C là người đã mua Ketamine và MDMA của Mai Văn B trong các ngày 13/12/2024 và 17/12/2024, C đã sử dụng hết số ma túy trên, đối với 02 viên ma túy MDMA C khai làm rơi mất không xác định được rơi ở đâu, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để truy tìm. Cơ quan điều tra đã xét nghiệm kết quả: Phạm Văn C dương tính với chất ma túy Ketamine. Ngày 24/12/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1200021/QĐ-XPHC xử phạt “cảnh cáo” đối với C theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Phạm Văn T2, và anh Vũ Mạnh H1, là hai người đã nhận chuyển khoản số tiền 4.600.000 đồng cho Phạm Văn C đến tài khoản ngân hàng M1 số 0915479071 của Mai Văn B. Quá trình điều tra xác định, anh H1 và anh T2 không biết việc C nhờ chuyển tiền mục đích để mua ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Đối với người đàn ông đi đường đã cho C mượn điện thoại di động lắp số thuê bao 0833.861.285 (Theo kết quả rút list số điện thoại 0915.479.xxx của B) để gọi cho bị cáo B hỏi mua ma túy ngày 13/12/2024. Tra cứu thông tin số thuê bao 0833.861.285, đăng ký chủ thuê bao là ông Trần Văn P1, sinh năm 1956, trú tại xóm B, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Quá trình làm việc, ông P1 không biết, không sử dụng số thuê bao trên, vì vậy cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ đối với người đang sử dụng thuê bao trên.
[3] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ các điểm b, p khoản 2; khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn B phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Mai Văn B 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2024.
Phạt bổ sung 10.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ mẫu vật hoàn cơ quan giám định hoàn trả gồm: “ M1 = 0,2539 g là ma tuý loại Ketamine; M2 = 2,749 gam là ma tuý loại Methamphetamine và Ketamine; M3 = 8,8039 g là ma tuý loại MDMA” đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ; Ngoài ra đối với toàn bộ phong bì, vỏ phong bì niêm phong các vật chứng được ký hiệu: B2; KX1; KX2; A; H; HC2; HC3; HC4; C; L; L1; 07 vỏ túi nilon; 01 cân điện tử màu trắng kích thước (6 x12)cm; 01 lọ nhựa mầu xám đen có chữ nước ngoài mầu trắng, kích thước 12x10cm; 01 hộp kim loại hình lục lăng màu xanh trắng kích thước (5,5 x 10) cm có chữ nước ngoài; 01 thẻ sim điện thoại bằng nhựa cứng màu trắng thu giữ của Phạm Văn C không có giá trị sử dụng.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng lắp sim số 0915.479.071 là công cụ, phương tiện phạm tội và số tiền 17.000đ thu giữ của bị cáo B và Phạm Văn C cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo mầu xanh lắp sim số 0913.033.801 và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ thu giữ của Mai Văn B là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo
(Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa Công an tỉnh N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư).
Đối với số tiền 4.600.000đ mà Phạm Văn C đã 02 lần nhờ người khác chuyển vào số tài khoản 0915479071 mở tại Ngân hàng M1 của bị cáo Mai Văn B là tiền thu lời bất chính cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Do bị cáo Mai Văn B đã rút 2.300.000đ để chi tiêu cá nhân nên buộc bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước; Toàn bộ số tiền 3.999.380đ còn lại trong tài khoản MB của bị cáo, Cơ
quan cảnh sát điều tra đã áp dụng biện pháp phong tỏa số 207/LPT-CSMT đối với số tài khoản trên cần tiếp tục phong toả để đảm bảo Thi hành án; buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 600.620đ là tiền thu lời bất chính mà bị cáo đã rút ra tiêu.
(Số tiền 27.000₫ hiện đang ở tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư tại kho bạc Nhà nước thành phố H, theo ủy nhiệm chi ngày 08 tháng 05 năm 2025).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Mai Văn B phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Việt Thanh |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phạm Thị Ngọc Nga – Hoàng Thị Kim Phượng |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Việt Thanh |
Bản án số 85/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 85/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Văn B phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 2 Điều 251BLHS
